Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2011

PHẬT GIÁO TRONG CON MẮT THIỀN QUÁN.

                                                                                                                         HT Thích Thái Hòa                                                   Duyên khởi với tiếng Pāli ta có như sau: Paticcasamuppāda. Paticca là duyên hay điều kiện, phụ thuộc. Ở trong mười hai chi duyên khởi, thì Paticca có nghĩa là tổng hợp và hỗ trợ các chi phần phụ thuộc nhau để khởi sinh quả. Samuppāda, sam có nghĩa là cùng và uppāda là khởi. Samuppāda, có nghĩa là cùng sanh khởi. Vậy, paticcasamuppāda có nghĩa là do duyên hỗ trợ cùng sinh khởi, nên gọi là duyên khởi.
Tổng Luận
Pháp Duyên khởi, tiếng Phạn là Pratīya-samutpāda. Pratīya, là sự hướng đến. Nghĩa là cái này hướng đến cái kia và cái kia hướng đến cái này. Hán dịch Pratīya là Duyên và Anh dịch là Condition. Samutpāda, có nghĩa là cùng sanh khởi. Vậy, Pratīya-samutpāda, có nghĩa là các duyên cùng hỗ trợ, cùng lệ thuộc nhau và cùng sinh khởi, nên gọi là duyên khởi.
Duyên khởi với tiếng Pāli ta có như sau: Paticcasamuppāda. Paticca là duyên hay điều kiện, phụ thuộc. Ở trong mười hai chi duyên khởi, thì Paticca có nghĩa là tổng hợp và hỗ trợ các chi phần phụ thuộc nhau để khởi sinh quả. Samuppāda, sam có nghĩa là cùng và uppāda là khởi. Samuppāda, có nghĩa là cùng sanh khởi. Vậy, paticcasamuppāda có nghĩa là do duyên hỗ trợ cùng sinh khởi, nên gọi là duyên khởi.
Ở trong Māhyamika, Ngài Nāgārjuna giải thích chữ Pratīya như sau:
Utpadyate pratītyemān itīme pratyayaḥ kīla. (Mādhyamika-prātyaya-parīksa).
Nghĩa là, do làm điều kiện cho cái kia sinh khởi, những cái này người ta gọi là Duyên.
Samutpāda có nghĩa là tập khởi, đồng khởi, sinh khởi, tương khởi, cộng khởi,…
Do những ý nghĩa trên, mà Pratīya - Samutpāda được các nhà Hán dịch là Duyên khởi hay Duyên sinh, tức là sự khởi sinh của vạn pháp cần phải có điều kiện (pratīya), nếu không có điều kiện, thì các pháp không thể sinh khởi.
Ở trong kinh Tương ưng, đức Phật dạy nghĩa duyên khởi như sau: “Này các Tỷ khưu, duyên khởi là gì? Vô minh làm điều kiện cho hành sinh khởi, hành làm điều kiện cho thức sinh khởi, thức làm điều kiện cho danh sắc sinh khởi, danh sắc làm điều kiện cho sáu nhập sinh khởi, sáu nhập làm điều kiện cho xúc sinh khởi, xúc làm điều kiện cho thọ sinh khởi, thọ làm điều kiện cho ái sinh khởi, ái làm điều kiện cho thủ sinh khởi, thủ làm điều kiện cho hữu sinh khởi, hữu làm điều kiện cho sanh sinh khởi, sanh làm điều kiện cho già chết sầu bi khổ não sinh khởi. Như vậy có sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn ầy. Nầy các Tỷ kheo, đây gọi là duyên khởi”. (S2.I).
Đây là ý nghĩa duyên khởi được hiểu theo nghĩa của mười hai duyên khởi ở trong các kinh điển thuộc văn hệ Āgama hay Nikāya. Nghĩa là trong mười hai chi phần duyên khởi, chúng cùng lệ thuộc vô minh và cùng hỗ trợ, lệ thuộc với nhau để cùng sinh khởi quả ở trong sanh tử.
Trong luận Thuận Chánh Lý, ngài Chúng Hiền đã giải thích ý nghĩa của Duyên khởi là: “Thử hữu cố bỉ hữu, thử sanh cố bỉ sanh, thị duyên khởi nghĩa”(Thuận Chánh Lý Luận 25, tr 481b, Đại Chính 29).
Nghĩa là cái này hiện hữu thì cái kia hiện hữu; vì cái này sinh khởi nên cái kia sinh khởi, đó là ý nghĩa của Duyên khởi.
Lại nữa, nhân duyên còn có ý nghĩa như Không - tính (Śūnyata), giả danh (prajñāpir) và trung đạo (mādhyamā).
Không-tính (śūnyata): Tất cả các pháp do duyên mà khởi, nên không có một pháp nào gọi là có tự tánh hoặc có tự thể thực hữu.
Bởi vậy, Không-tính (śūnyata) là tính của các pháp không có tự thể thực hữu. Hay nói cách khác, Không-tính là tính duyên khởi của các pháp, và tính duyên khởi của các pháp là Không-tính (śūnyata). Không-tính là tính phổ biến của vạn pháp, không có pháp nào sinh khởi mà không mang tính chất của Không-tính.
Do đó, tính - không của vạn pháp, nó siêu không gian và thời gian.
Giả danh (prajñāptir): Tất cả các pháp do duyên mà khởi, nên tự nó không có tên gọi cho chính nó. Sở dĩ gọi nó bằng tên này hay tên khác, đó là gọi theo sự giả định, sự quy ước, gọi theo sự gợi lên để nhận thức.
Lại nữa, gọi là Giả danh, vì tên gọi của nó chỉ là do nhận thức áp đặt và giả định. Các pháp đã là do duyên khởi thì tự nó là sinh động vô thường, nên bảo rằng các pháp là thực hữu cũng không chính xác; mà bảo rằng các pháp là không thực hữu cũng không chính xác; bảo rằng các pháp là đoạn diệt cũng không chính xác; bảo rằng các pháp là hằng hữu cũng không chính xác.
Do đó, các pháp được gọi tên chỉ theo giả định, nghĩa là chúng được gọi tên là do sự gợi lên của nhận thức (prajñāptir).
Trung đạo (mādhyamā): Là con đường giữa của sự nhận thức đối với các pháp. Vì các pháp do duyên mà khởi, nên không thể gọi chúng là thường, bởi lẽ chúng luôn luôn sinh diệt; cũng không thể bảo chúng là đoạn diệt, bởi lẽ pháp này diệt thì pháp khác liền sinh, cứ như vậy chúng sinh khởi liên tục, cũng không thể bảo chúng là thực hữu, vì chúng chỉ là một tập hợp không tự thể; cũng không thể bảo chúng là “vô”, vì chúng tạm thời đang hiện hữu.
Bởi lẽ, các pháp do duyên khởi, nên không thể bảo chúng là thường hay đoạn, hữu hay vô, đồng nhất hay dị biệt, mà chỉ gọi nó là Trung đạo.
Sở dĩ gọi nó là Trung đạo, vì Trung đạo là siêu việt, hữu, vô, thường, đoạn, lai, khứ, đồng nhất và dị biệt,…
Ở mặt giải thoát thì Trung đạo không phải là con đường giữa, mà là con đường đi đến Niết bàn, chứ không phải Trung đạo là Niết bàn. Trung đạo là con đường đi đến Niết bàn, không bị vướng mắc bởi bất cứ cực đoan nào.
Ở mặt giác ngộ, thì Trung đạo không phải là giác ngộ, mà là con đường của nhận thức, của hiểu biết để đi đến giác ngộ, không bị vướng mắc bởi những quan điểm cho rằng, các pháp là thường hay là đoạn, là hữu hay là vô, là đồng nhất hay là dị biệt…
Nói tóm lại, Trung đạo là con đường đi đến Niết bàn, không bị vướng mắc bởi những hành động cực đoan. Và con đường đi đến giác ngộ, không bị vướng mắc bởi những nhận thức phiến diện.
Trong kinh Đức Phật dạy cho Kaccàyana như sau:
“Tất cả là có, này Kaccāyana, là một cực đoan. Tất cả là không, là cực đoan thứ hai. Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccāyana, Như Lai thuyết pháp theo Trung đạo”.
Như Lai thuyết pháp theo Trung đạo, là thuyết pháp không bị vướng mắc vào những quan điểm của nhị nguyên thường tình. Nghĩa là Như Lai chỉ thuyết pháp dựa vào sự giác ngộ lý duyên khởi mà thôi.
Ở trong Madhyamikā thì ngài Nāgārjuna đã phát biểu thẳng ý nghĩa duyên khởi như sau: “Tôi tuyên bố rằng: Pháp nào mà duyên khởi, thì pháp ấy là không-tính, pháp ấy cũng là giả-danh, pháp ấy cũng là Trung-đạo. = yaḥ pratītya samutpādaḥ śūnyatām tām pracaksmahe, śaprajñāptir upādāyapratipat saiva madhyamā”(Mādhyamika-āriyasatya-parīksa).
Như vậy, ý nghĩa của Duyên khởi cũng là ý nghĩa của Không-tính, Giả danh và Trung đạo. Và ý nghĩa ấy, cũng đã được khai triển tùy theo tầm mức giác ngộ của từng trường phái Phật giáo.
Tuy nhiên, dù ý nghĩa duyên khởi có khai triển sâu rộng đến mức nào đi nữa, thì ý nghĩa căn bản của duyên khởi, có tính nhất quán trong các trường phái Phật giáo vẫn là:
“Cái này hiện hữu thì cái kia hiện hữu, cái này không hiện hữu thì cái kia không hiện hữu”.
Duyên khởi cũng có nghĩa là vô thường. Cái gì do lệ thuộc vào cái khác mà sinh, thì cái ấy là vô thường. Vô thường có nghĩa là biến diệt liên tục. Cái nầy sinh là cái kia diệt; cái nầy diệt là cái kia sinh. Và chính cái sinh là cái diệt, chính cái diệt là cái sinh. Với ý nghĩa nầy, giáo lý duyên khởi đã bật lên ngọn đèn chánh kiến, khiến cho mọi chủ trương chết là mất hẳn, không còn bất cứ cái gì nữa sau cái chết đều bị rơi rụng hoàn toàn.
Duyên khởi có nghĩa là vô ngã, vì không có một sự hiện hữu nào giữa thế gian tồn tại độc lập mà tồn tại trong sự quan hệ nhân duyên. Do quan hệ nhân duyên mà sinh khởi. Cái gì do quan hệ nhân duyên mà sinh khởi, thì cái ấy không có tự thể thực hữu, cái ấy không có ngã thể, cái ấy là vô ngã. Với ý nghĩa nầy, giáo lý duyên khởi đã bật lên ngọn đèn chánh kiến, khiến cho mọi chủ trương có một chủ tể sáng thế, đọc tồn, hay có một linh hồn hằng hữu sau khi chết, đều bị rơi rụng hoàn toàn.
Duyên khởi có nghĩa là không. Không có nghĩa là các pháp có sự rỗng lặng ở bên trong. Bản thể của các pháp duyên khởi là tánh không hay rỗng lặng. Do tự thân của các pháp là tánh không, nên chúng mới có thể đi tới với nhau và hỗ trợ nhau sinh khởi. Nên Long Thọ nói: “Vì do có tánh không, nên mọi pháp đều thành; nếu không có tánh không, các pháp đều chẳng thành = Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành; nhược vô không nghĩa cố, nhất thiết tắc bất thành” (Trung Quán Luận 4, tr 33a, Đại Chính 30).
Với ý nghĩa nầy, giáo lý duyên khởi đã bật lên ngọn đèn chánh kiến, thấy rõ tánh không là trung đạo siêu việt mọi đối đãi nhị nguyên sanh diệt, thường đoạn, hữu vô, đồng dị. Và thấy rõ tánh-không là Niết bàn. Tánh ấy không phải là các pháp sanh diệt mà cũng không phải tách rời các pháp ấy. Tánh ấy ngay nơi các pháp sinh diệt mà rỗng lặng và ngay nơi sanh tử mà thể chứng Niết bàn.
Ấy là nghĩa sâu thẳm, vi diệu, siêu lý luận của duyên khởi.
Nội dung
Sự sinh khởi của tất cả pháp, kể từ thế giới khách quan đến thế giới nội tại, đều do nhân duyên quan hệ với nhau mà có sự sinh khởi của tất cả pháp.
Theo sự phân tích của các nhà Phật học Luận tạng, nhân có nhiều loại như sau:
1- Nhân có hai loại gồm: Năng sinh nhân và phương tiện nhân. Năng sinh nhân là nhân chính sinh khởi quả, nên cũng gọi là chính nhân, cũng gọi là tập nhân, đồng loại nhân,... Phương tiện nhân là nhân gián tiếp của chính nhân hay của năng sinh nhân, cũng còn gọi là liễu nhân hay duyên nhân,...
2- Nhân có năm loại gồm: - Sinh nhân. – Y nhân. - Lập nhân. – Trì nhân và Dưỡng nhân.
Sinh nhân là nhân có khả năng sinh khởi quả. Y nhân là nhân làm nơi nương tựa cho quả sinh khởi. Trì nhân là nhân có khả năng duy trì sự tồn tại liên tục của quả. Dưỡng nhân là nhân có khả năng nuôi lớn quả. (Tham khảo Đại tỳ bà sa 3, Đại Chính 27; Câu xá luận, Đị Chính 29).
3- Nhân sáu loại gồm: - Năng tác nhân. – Câu hữu nhân. - Đồng loại nhân. – Tương ưng nhân. - Biến hành nhân. - Dị thục nhân.
- Năng tác nhân, tiếng Phạn là kāraṇahetu. Kāraṇa có nghĩa là tác động hay có khả năng làm cho sinh khởi. Ấy là nhân có khả năng tác động làm sinh khởi quả. Nhân nầy có hai loại là dự lực hay hữu lực và bất chướng hay vô lực. Nhân sinh khởi quả, do sự hỗ trợ của cái khác, và nó thuộc về pháp hữu vi, nên gọi là dự lực hay hữu lực. Nhân sinh khởi quả không bị chướng ngại, nó bao gồm cả pháp hữu vi và vô vi. Nên, nhân nầy bao gồm cả các pháp hữu vi và vô vi. Các pháp thuộc về hữu vi hay vô vi đều có khả năng trở thành năng tác nhân.
- Câu hữu nhân, còn gọi là cộng hữu nhân hay cọng sinh nhân, tiếng Phạn là sahabhūhetu. Sahabhū có nghĩa là cùng hiện hữu hay cùng trở thành. Ấy là nhân đồng thời, nghĩa là do các pháp đồng thời có mặt làm nhân để hỗ dụng cho nhau, khiến cho nhân quả mang tính đồng thời. Nên, đối với câu hữu nhân, thì nhân là quả và quả là nhân. Nhiều nhân cùng hiện hữu để tạo thành một kết quả.
- Đồng loại nhân, cũng gọi là tự phần nhân, tự chủng nhân, tiếng Phạn là sabhāgahetu. Sabhāga có nghĩa là đồng loại. Ấy là nhân có khả năng duy trì tính đồng loại. Nghĩa là nhân có khả năng sinh khởi quả và quả đồng loại với nhân. Nghĩa là nhân người thì sinh ra con người; nhân súc vật thì sinh ra súc vật. Nghĩa là nhân nào quả nấy.
- Tương ưng nhân, tiếng Phạn samprayuktahetu. Samprayukta có nghĩa là cùng nhau thích ứng. Ấy là nhân có khả năng hỗ trợ và tương ứng với nhau. Nghĩa là tâm và các pháp thuộc về tâm hỗ trợ và tương ứng đồng thời, đồng một chỗ nương tựa, đồng điều kiện hỗ trợ với nhau, đồng hành tướng với nhau và đồng sự kiện với nhau để sinh khởi quả.
- Biến hành nhân, cũng gọi là nhất thiết biến hành nhân, tiếng Phạn là sarvatragahetu. Sarvatraga có nghĩa là vận hành cùng khắp. Nghĩa là nhân có khả năng sinh khởi các loại phiền não bao gồm hết thảy pháp nhiễm ô.
- Dị thục nhân, tiếng Phạn là vipākahetu. Vipāka tiền tố từ là vi và căn của nó là pāk, có nghĩa là nấu chín. Nghĩa là nhân khi đã đến thời điểm chín muồi thì nhân và quả khác nhau. Nhân sinh khởi, nhưng phải trải qua một thời gian khác mới sinh khởi quả, nhân và quả khác thời, nên gọi là dị thục nhân. Nhân và quả dị loại. Nghĩa là nhân là thiện hay ác mà quả là vô ký, gọi là dị thục nhân. Nhân là thiện mà quả là vui hay nhân là ác mà quả là khổ hay nhân là thiện hay ác mà quả là vô ký, đều gọi là dị thục nhân. Nhân vô ký là nhân không thuộc về thiện hay ác; quả vô ký là quả không thuộc về khổ hay vui. (Tham khảo Câu xá luận 6, Đại Chính 29; Phát trí luận 1, Đại Chính 26; Đại tỳ bà sa 16 -21, Đại Chính 29; Tạp a hàm tâm luận 2, Đại Chính 28).
4- Nhân mười loại gồm: - Tùy thuyết nhân, quan đãi nhân, khiên dẫn nhân, sinh khởi nhân, nhiếp thụ nhân, dẫn phát nhân, định biệt nhân, đồng sự nhân, tương vi nhân, bất tương vi nhân.
- Tùy thuyết nhân là nhân thuộc về ngôn ngữ, dùng nó để diễn tả sự vật, nên gọi là tùy thuyết nhân. Nhân nầy thiết lập dựa vào ngôn ngữ. Tác nhân của ngôn ngữ là tầm, tứ hay tưởng.
- Quan đãi nhân là nhân do quan hệ và đối đãi với cái khác mà sinh khởi. Ví dụ, chân là quan đãi nhân của đi. Vì sao? Vì cái đi do quan hệ và đối đãi với chân mà sinh khởi. Nên, chân là quan đãi nhân của cái đi hay của hành động đi. Quan đãi nhân do dựa vào sự lãnh thọ mà thiết lập.
- Khiên dẫn nhân là nhân thuộc về chủng tử. Do lấy chủng tử làm nhân, khiến cho nhân có khả năng dẫn sinh tự quả thuần thục cho chính nó ở trong tương lai xa. Nhân nầy dựa vào tập khí để thiết lập.
- Sinh khởi nhân là nhân có khả năng sinh khởi tự quả cho chính nó ở tương lai gần. Nhân nầy dựa vào chủng tử thuần thục mà thiết lập.
- Nhiếp thụ nhân là nhân bao gồm cả chủng tử và các duyên tương nhiếp với nhau mà sinh khởi quả. Nhân nầy dựa vào vô gián diệt, các căn, đối tượng của các căn, tác dụng, sĩ dụng và chân thật mà thiết lập.
- Dẫn phát nhân là nhân có khả năng sinh khởi quả đồng loại. Nghĩa là các chủng tử thiện, ác, vô ký có khả năng dẫn sinh tự quả đồng loại và có khả năng dẫn sinh nhân của các hạnh thù thắng và vô vi. Nhân nầy là do dựa vào chỗ tùy thuận mà thiết lập.
- Định biệt nhân cũng còn gọi là định dị nhân là nhân có khả năng sinh khởi tự quả nhất định cho chính nó không tạp loạn. Nhân nầy là do dựa vào công năng sai biệt của các pháp mà thiết lập.
- Đồng sự nhân là nhân và quả đồng sự với nhau hòa hợp làm một. Nhân nầy dựa vào sự hòa hợp mà thiết lập.
- Tương vi nhân là nhân sinh khởi sự trái ngược, nghĩa là do tính chất trái ngược của duyên, khiến trở ngại sự sinh khởi quả hay trở ngại đối với sự sinh khởi của các pháp. Nhân nầy là do dựa vào chướng ngại mà thiết lập.
- Bất tương vi nhân là nhân có khả năng sinh khởi quả mà không bị bất cứ sự trở ngại nào, nghĩa là nhân thuận lợi cho sự sinh khởi quả. Nhân nầy là do dựa vào chỗ không chướng ngại mà thiết lập. (Tham khảo Du già sư địa luận 5, Đại Chính 30; Đại trí độ luận 32, Đại Chính 25; Hiển dương thánh giáo luận 18, Đại Chính 31; Thành duy thức luận 2 -8, Đại Chính 31).
Mười nhân nầy, ta cũng có thể tham khảo thêm ở Bồ tát địa trì kinh và một số kinh luận khác nữa, ở đây không phiền trích dẫn.
Nhân phải có duyên tác động, hỗ trợ, thì nhân mới sinh khởi quả. Duyên có bốn loại như sau:
Duyên có bốn loại gồm: Nhân duyên, Đẳng vô gián duyên, Sở duyên duyên và Tăng thượng duyên.
Nhân duyên (pratyayāhetu): Tất cả pháp kể từ thế giới nội tại đến thế giới khách quan, không có sự sinh khởi nào độc lập ngoài sự quan hệ nhân duyên.
Nhân (hetu) là năng lực tác động tự nội; Duyên (pratīya) là điều kiện giúp đỡ từ ngoại, để cho năng lực tác động tự nội ấy được sinh khởi và hình thành. Nhân duyên trong ý nghĩa của bốn duyên nầy, thì nhân cũng chính là duyên và duyên cũng chính là nhân. Vì nhân được hình thành từ duyên, nên nhân ấy cũng chỉ là một trong những thành phần của duyên, nên gọi là nhân duyên.
Lại nữa, nhân duyên là chỉ cho năng lực tự sinh ra quả cho chính nó. Nhân là chủng tử nội hàm. Duyên là mặt hiện hành của chủng tử. Chủng tử khởi sinh hiện hành và hiện hành huân tập thành chủng tử. Chủng tử thiện, ác, vô ký từ A lại da thức mà chuyển hiện qua bảy thức gồm nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý và mạt na và cũng từ nơi bảy thức nầy mà huân tập lại thành chủng tử. Sự khởi hiện và huân tập; sự huân tập và khởi hiện tương quan giữa A lại da thức và các thức như vậy, gọi là nhân duyên.
Đẳng vô gián duyên (Anantara-pratīya): Duyên nầy còn gọi là Thứ đệ duyên, nghĩa là tất cả các pháp làm nhân, làm duyên cho nhau một cách liên tục, không bị gián cách. Hay nói khác, pháp trước làm nhân cho pháp sau, pháp sau làm duyên cho pháp trước, các pháp cứ tuần tự làm nhân, làm duyên cho nhau như vậy mà sinh khởi liên tục. Do đó, gọi là Đẳng vô gián duyên hay là Thứ đệ duyên.
Lại nữa, trong các pháp tương quan sinh diệt liên tục, pháp trước diệt, pháp sau sinh, cái trước diệt cái sau sinh, tâm niệm trước diệt, tâm niệm sau sinh, chúng liên tục với nhau không hề gián đoạn. Và tuy chúng sinh diệt có trước sau, nhưng thể và dụng của chúng vẫn đồng đẳng như nhau không gián đoạn, nên gọi là đẳng vô gián duyên.
Sở duyên duyên (Alambanapratītya): Nghĩa là Duyên và Sở duyên. Duyên là pratītya và Sở duyên, tiếng Phạn là Alambana. Alambana đi từ động từ căn là Lam, có nghĩa là leo, vin vào, dựa vào, nương vào, vướng vào.
Như vậy, Sở duyên hay Alambana là đối tượng để cho cái khác dựa vào. Sở duyên là ám chỉ cho cảnh vật được biến tợ bởi tâm và thức. Những cảnh vật được biến tợ này lại làm duyên để cho tự thức khởi sinh. Do đó, gọi là Sở duyên duyên
Lại nữa, sở duyên (Alambana) là chỉ cho đối tượng bị nhận thức hay thế giới khách quan. Còn chữ duyên (pratītya) là ám chỉ cho chủ thể năng nhận thức hay thế giới nội tại. Thế giới khách quan làm điều kiện để cho thế giới nội tại khởi sự phân biệt.
Sở duyên duyên nầy có hai loại gồm: Thân sở duyên duyên và sơ sở duyên duyên. Theo các nhà Duy thức học, thì thân sở duyên duyên là chỉ cho Kiến phần của thức A lại da, vì nó là thể năng duyên và lìa kiến phần tức là thể năng duyên mà có khả năng tính lường, gọi là sơ sở duyên duyên. (Thành duy thức luận 7, tr 40c, Đại Chính 31).
Nói gọn, cái nào có khả năng dẫn sinh sự phân biệt, và sự phân biệt ấy mang ảnh tượng tương tợ với chúng thì cái ấy gọi là duyên và sở duyên, hay gọi là sở duyên duyên (Alampanapratītya).
Tăng thượng duyên (Adhipapeyampratīya): Duyên nầy là duyên tăng thêm sự sinh khởi cho các pháp một cách nhanh chóng từ nhân đến quả.
Tăng thượng duyên gồm có thuận và nghịch:
Thuận duyên, là duyên hỗ trợ và tác động một cách tích cực để cho các pháp sinh khởi một cách nhanh chóng từ duyên đến quả.
Nghịch duyên, là duyên làm đối kháng sự sinh trưởng của nhân. Mọi pháp có thể sinh khởi, tồn tại hay hủy diệt đều lệ thuộc vào bốn duyên này. Ở trong bốn duyên này thì Sở duyên duyên, Tăng thượng duyên, Đẳng vô gián duyên là biệt tướng, còn Nhân duyên là tổng tướng. Nhân duyên có thể bao gồm hết cả các duyên còn lại. Tuy nhiên, một số nhà Phật học Đại thừa cho rằng, sự sinh khởi của sắc pháp và chủng tử chỉ cần có hai duyên là nhân duyên và tăng thượng duyên. Vì sao? Vì sắc pháp và chủng tử không phải là pháp duyên lự, nên không cần đến Sở duyên duyên. Lại nữa, sắc pháp và chủng tử do nhiều loại cùng chuyển khởi, nên không có sự đồng đều trước sau, nên không có Đẳng vô gián duyên. (Tham khảo Đại tỳ bà sa luận 21, Đại Chính 27; Du già sư địa luận 5, Đại Chính 30; Hiển dương thánh giáo luận 18, Đại Chính 31; Thuận chính lý luận 18, Đại Chính 29; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng 6, Đại Chính 43; Đại thừa nghĩa chương 31, Đại Chính 44).
Ngoài duyên bốn loại, còn có hai mươi bốn duyên. Hai mươi bốn duyên nầy thuộc về Phân biệt Thượng tọa bộ, ở trong Thanh Tịnh Đạo Luận, ta có như sau:
- Nhân duyên: Nhân là căn để hay gốc rễ và duyên là điều kiện căn để, điều kiện gốc. Nhân duyên làm điều kiện gốc cho hết thảy mọi điều kiện hay hết thảy mọi duyên, vì vậy mà gọi là nhân duyên.
- Sở duyên duyên: Một pháp trợ giúp bằng cách làm đối tượng để cho pháp khác duyên vào, nên gọi là sở duyên duyên.
- Tăng thượng duyên: Ấy là duyên tăng thượng. Duyên tăng thượng có hai loại gồm câu sanh và sở duyên. Câu sanh tăng thượng là duyên tăng thượng cùng có mặt sanh khởi đồng thời. Sở duyên tăng thượng là duyên tăng thượng đặt vào nơi một pháp mà từ nơi pháp ấy, pháp khác lại sinh khởi.
-Vô gián duyên: Ấy là duyên hỗ trợ liên tục. Nghĩa là pháp nào làm điều kiện để sinh khởi tiếp tục tương ứng với nó, gọi là vô gián duyên.
-Đẳng vô gián duyên: Ấy là duyên hỗ trợ cho các pháp sinh diệt liên tục, pháp diệt trước và pháp sinh sau, hay niệm trước diệt, niệm sau sinh đồng thể và dụng với nhau. Theo Buddhaghoṣa, thì đẳng vô gián duyên và vô gián duyên chỉ khác nhau về từ ngữ mà không khác nhau về ý nghĩa. (Visuddhi Magga – Buddhaghosa = Thanh tịnh đạo luận – Phật âm, Thích nữ Trí Hải dịch, 899, chùa Pháp vân tại Pomana. USA, Ấn hành 1995).
- Câu sinh duyên: Ấy là duyên đồng thời sinh khởi. Ví như ngọn đèn và ánh sáng. Ngọn đèn vừa có mặt là ánh sáng tức thì có mặt với ngọn đèn. Ánh sáng và ngọn đèn cùng sinh khởi một lúc, không có trước sau. Sự sinh khởi như vậy, gọi là câu sinh duyên.
- Tương hỗ duyên: Ấy là các duyên giúp nhau sinh khởi. Ví như cái kiềng đứng vững là nhờ ba chân của kiềng hỗ trợ nhau. Ba chân kiềng hỗ trợ cho cái kiềng đứng vững, gọi là tương hỗ duyên.
- Sở y duyên: Ấy là duyên mạnh làm đối tượng y chỉ cho cái khác nương tựa để sinh khởi.
- Y chỉ duyên: Ấy là duyên y chỉ. Nghĩa là duyên làm chỗ nương tựa, y chỉ và nâng đỡ cho cái khác sinh khởi. Ví như quả đất đối với thảo mộc và con người.
- Tiền sinh duyên: Ấy là duyên khởi lên trước làm điều kiện cho các pháp duyên vào để sinh khởi. Ví như nhãn căn là tiền sinh duyên của sắc trần. Và các đại chủng là tiền sanh duyên của nhãn căn,...
- Hậu sinh duyên: Ấy là duyên sinh khởi về sau, làm duyên cho tiền sanh duyên. Ví như cây cối trồng trước, sau đó bón phân. Nhờ bón phân mà cây cối trồng trước đó xanh tươi. Như vậy hậu sanh duyên làm duyên cho tiền sanh duyên.
- Tu tập duyên: Ấy là duyên lặp đi, lặp lại nhiều lần.
- Nghiệp duyên: Ấy là duyên hỗ trợ bằng sự can thiệp và tác động của tâm ý.
- Dị thục duyên: Ấy là duyên hỗ trợ sự an tịnh hay sự hỗ trợ tự nhiên cho cái khác sanh, không cần sự nỗ lực.
- Thực duyên: Ấy là duyên hỗ trợ thức ăn cho các pháp hữu sắc và vô sắc. Ví như bốn loại thực phẩm đều là thực duyên cho các pháp thuộc về sắc và vô sắc.
- Căn duyên: Ấy là duyên do các căn hỗ trợ mà sinh khởi. Ví như nhãn căn làm duyên cho nhãn thức sinh khởi,...và nhãn căn chỉ là điều kiện giới hạn cho nhãn thức sinh khởi, nên gọi là căn duyên.
- Đạo duyên: Ấy là duyên do các chi phần của đạo làm điều kiện để cho các pháp tương ưng sinh khởi, nên gọi là đạo duyên.
- Tĩnh lự duyên: Ấy là duyên do các chi phần của thiền làm điều kiện để thiện pháp sinh khởi- Các chi phần của thiền gồm: Tầm, tứ, hỷ, lạc, ưu, xả và nhất tâm. Các thiền chi nầy làm điều kiện để cho các thiện pháp sinh khởi, nên gọi là tĩnh lự duyên.
- Tương ứng duyên: Ấy là duyên hỗ trợ khiến cho pháp thuộc về một căn tương ứng với một trần nào đó sinh khởi. Ví như nhãn căn tương ứng với sắc trần, khiến nhãn thức hay cái thấy sinh khởi,...
- Bất tương ứng duyên: Ấy là duyên không tương ứng. Bất cứ pháp nào làm duyên khởi cho các pháp không đồng loại, đều gọi là bất tương ứng duyên. Ví như các yếu tố sắc uẩn (vật chất) làm điều kiện cho các yếu tố thuộc tâm uẩn (tinh thần) sinh khởi hay hủy diệt, hoặc các yếu tố tâm uẩn (tinh thần) làm điều kiện cho các yếu tố thuộc về sắc uẩn (vật chất) sinh khởi hay hủy diệt, đều gọi là bất tương ứng duyên.
- Hữu duyên: Ấy là duyên yểm trợ làm cho cái khác hiện hữu. Ví dụ đối với thân năm uẩn, thì các pháp thuộc về sắc uẩn, chúng làm duyên yểm trợ cho nhau và giúp nhau hiện hữu, gọi là hữu duyên; các uẩn thuộc về tâm hay vô sắc như thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn, chúng tương tợ cho nhau và giúp nhau hiện hữu, gọi là hữu duyên.
- Phi hữu duyên: Ấy là duyên phi hữu. Nghĩa là bất cứ pháp vô sắc nào trước đó chấm dứt làm điều kiện cho pháp vô sắc ở sau khởi lên, gọi là duyên phi hữu.
- Khứ duyên: Ấy là duyên ly khứ. Duyên yểm trợ bằng cách biến mất. Nghĩa là tâm quá khứ biến mất để làm duyên cho tâm hiện tại có mặt, gọi là khứ duyên.
- Bất khứ duyên: Ấy là duyên không biến mất. Không biến mất để trợ duyên, nên gọi là bất khứ duyên hay là duyên yểm trợ bằng cách không rời bỏ quá khứ.
Phương Pháp Quán Chiếu Duyên Khởi
Đối với pháp mười hai duyên khởi, Kinh và Luận dạy ta thực hành hai pháp quán. Một là lưu chuyển và hai, là hoàn diệt.
-Quán chiếu lưu chuyển: Thực tập phương pháp quán chiếu nầy là để thấy rõ nguyên lý duyên khởi: “Cái nầy sinh, thì cái kia sinh”. Nghĩa là “vô minh sinh khởi thì hành sinh khởi,...”. Nên, ta quán chiếu để thấy rõ sự lưu chuyển trong mười hai chi duyên khởi liên hệ đối với đời sống của ta trong hiện tại; trong ba đời và vô thỉ.
- Quán chiếu sự lưu chuyển và hiện khởi của mười hai nhân duyên trong từng niệm hiện tiền:
Khi đối cảnh, tâm ta không có giác tỉnh, vô minh vọng khởi, khiến ta không thấy rõ đối tượng sinh khởi từ nhân duyên và trong nhân duyên có nhân và có quả; Trong quả có nhân và trong nhân có quả.
Khi một niệm không tỉnh giác hay thiếu tỉnh giác, thì vô minh sinh khởi. Một niệm không tỉnh giác làm nhân, làm duyên cho vô minh sinh khởi. Vô minh đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho hành sinh khởi; hành đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho thức sinh khởi; thức đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho danh sắc sinh khởi; danh sắc đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho lục nhập sinh khởi; lục nhập đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho xúc sinh khởi; xúc đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho thọ sinh khởi; thọ đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho ái sinh khởi; ái đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho thủ sinh khởi; thủ đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho hữu sinh khởi; hữu đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho sanh sinh khởi; sanh đã sinh khởi, thì nó lại làm nhân, làm duyên cho lão tử, ưu bi khổ não sinh khởi.
Quán chiếu để thấy rõ mười hai chi phần của nhân duyên, nương nhau sinh khởi liên tục, không gián đoạn bởi niệm trước và niệm sau như vậy, gọi là quán chiếu mười hai chi phần duyên khởi ngay trong từng niệm hiện tiền. Niệm trước làm nhân duyên cho niệm sau sinh khởi, niệm sau lại làm nhân duyên cho niệm sau nữa sinh khởi, cứ như vậy mà vọng niệm liên tục sinh khởi ở nơi dòng chảy tâm thức của ta.
Thực tập pháp quán nầy, ta chú ý đến chất liệu niệm và giác ở nơi tâm ta. Và duy trì niệm và giác ấy luôn luôn có mặt trong hiện tiền, để niệm được thăng tiến thành chánh niệm và giác được thăng tiến thành chánh giác. Niệm và giác có mặt hiện tiền, thì vô minh không duyên vào đâu để sinh khởi. Vô minh không sinh khởi, thì các chi phần của vô minh không dựa vào đâu để sinh khởi, khiến cho các khổ uẩn trong sinh tử chấm dứt và Niết bàn có mặt.
- Quán chiếu sự lưu chuyển và hiện khởi của mười hai nhân duyên liên hệ ba đời:
Nhìn sâu vào trong một niệm của ta, ta thấy có đầy đủ cả mười hai chi phần duyên khởi và có đủ cả ba thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai. Nghĩa là trong vô minh có đầy đủ cả mười một chi phần kia, và do trong vô minh có cả mười một chi phần kia, nên chúng mới làm nhân, làm duyên cho vô minh sinh khởi và cùng sinh khởi với vô minh. Vì vậy, trong vô minh không có chủ thể, không có ngã thể mà vô minh sinh khởi là do nhân duyên cùng tác động. Và ngay trong một niệm duyên khởi của ta cũng bao gồm cả ba đời vị lai, hiện tại và quá khứ. Niệm chưa đủ duyên để khởi là vị lai; cùng đủ duyên để khởi là hiện tại; sau khi niệm đã khởi lại biến diệt là quá khứ. Nên, vị lại, hiện tại và quá khứ đều có mặt ngay trong một niệm hiện tiền. Một người thấy hiện tiền mà không thấy trong một niệm hiện tiền có cả vị lai và quá khứ, thì không phải là người thấy được pháp duyên khởi xuyên suốt.
- Quán chiếu sự lưu chuyển và hiện khởi của mười nhân duyên từ vô thỉ đến vô chung:
Vô minh là duyên khởi, nên nó không có khởi điểm cho nó, nên gọi là vô thỉ và nó cũng không có điểm cuối cùng cho nó, nên gọi là vô chung. Mười hai chi phần duyên khởi quan hệ với nhau được xem như là một vòng tròn mà không phải là một được thẳng. Nên, tự thân của vô minh là vô thỉ và vô chung. Nghĩa là cái nầy diệt thì cái kia sinh, sinh và diệt cùng có mặt trong nhau làm nhân, làm duyên hỗ trợ nhau sinh diệt tương tục vô thỉ và vô chung.
Lục đạo chúng sanh do đâu mà có? Do nghiệp mà có. Nghiệp do đâu mà có? Nghiệp có là do hành duyên với vô minh mà sinh khởi. Vô minh do đâu mà có? Do duyên vào bất giác mà vọng niệm khởi động, các phiền não từ đó mà sinh khởi, nghiệp liên hệ đến phiền não mà chiêu cảm nên, y báo và chánh báo trong lục đạo chúng sanh.
Theo các nhà Phật học Đại thừa phân tích, thì vô minh trong mười hai duyên khởi thuộc về vô minh chi mạt mà không phải là vô minh căn bản. Căn bản vô minh còn gọi là vô thỉ vô minh. Vô thỉ vô minh, chính là tâm bất giác, mê vọng. Chính tâm nầy liên hệ với nghiệp và nghiệp liên hệ với tâm bất giác, mê vọng nầy, mà khởi sinh sự sai thù vạn biệt của thế giới và chúng sanh. Thế giới và chúng sanh do nghiệp liên hệ với căn bản vô minh nầy, mà chiêu cảm nên thế giới sinh diệt của chúng sanh từ vô thỉ cho đến vô chung.
Quán chiếu pháp duyên khởi lưu chuyển nầy thành tựu, khiến cho những hạt giống tà kiến về hữu thần, vô thần, chấp ngã, chấp pháp hoàn toàn nơi ta bị rơi rụng, đưa tâm trở lại với trạng thái bình lặng và giác tỉnh hoàn toàn.
- Quán chiếu hoàn diệt: Thực tập pháp quán nầy là để thấy rõ nguyên lý duyên khởi: “Cái nầy diệt thì cái kia diệt”. Nghĩa là “vô minh diệt, thì hành diệt”. Sự hủy diệt các chi phần ở trong mươi hai duyên khởi liên hệ đến đời sống của ta có hai cách. Một là diệt tận vô minh chi mạt, khiến cho các chi phần trong mười hai duyên khởi đều bị diệt tận; hai là diệt tận vô minh căn bản, khiến cho vô minh chi mạt và những gì liên hệ đến vô minh đều bị diệt tận.
- Phương pháp quán chiếu và diệt tận chi mạt vô minh:
Chi mạt vô minh không tự có, nó có là từ nơi tâm mê hoặc. Ái thủ hữu là chất liệu nuôi dưỡng vô minh và kế thừa vô minh. Vì vậy, muốn diệt tận chi mạt vô minh, thì phải diệt tận ái thủ hữu. Ái thủ hữu không tự có, chúng do duyên vào xúc và thọ mà sinh khởi. Xúc và thọ không tự có, chúng do sáu căn và sáu trần duyên vào nhau mà sinh khởi. Sáu căn duyên vào danh và sắc mà sinh khởi. Danh và sắc, duyên vào thức mà sinh khởi. Thức duyên vào vô minh và hành mà sinh khởi.
Nên, muốn diệt tận chi mạt vô minh, thì ta phải diệt tận ái thủ và hữu. Muốn diệt tận ái thủ và hữu, ta phải biết phòng hộ sáu căn qua giới, nghĩa là phòng hộ và đình chỉ ái nhiễm ngay ở nơi các căn tiếp xúc với các trần. Và ta phải có niệm hay giác ngay khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, như vậy là ta phòng hộ sáu căn khi tiếp xúc với sáu trần qua định. Và khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, ta có giác và chiếu để thấy rõ sáu căn hay sáu trần và sáu thức đều do duyên khởi, nên chúng là vô thường, không có ngã tính, không phải là ta, không phải là của ta, khiến cho mọi hạt giống chấp ngã và chấp pháp liên hệ chi mạt vô minh nơi tâm ta đều bị yếu dần và chúng bị phòng hộ và đình chỉ bởi giới, bị nhiếp phục bởi định, bị chuyển hóa và quét sạch bởi tuệ.
Vì vậy, muốn hủy diệt vô minh, trước hết ta phải hủy diệt ái thủ và hữu. Muốn hủy diệt ái thủ và hữu, ta phải biết phòng hộ, nhiếp phục và hủy diệt chúng qua giới, định và tuệ. Tùy theo mức độ phòng hộ, nhiếp phục và hủy diệt đối với ái thủ hữu qua giới định tuệ mà các chi phần của đạo lộ giải thoát như chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, xuất hiện trên tâm.
Như vậy, muốn đoạn trừ chi mạt vô minh, ta phải nhiếp phục ái thủ hữu qua sự phòng hộ sáu căn, khi sáu căn tiếp xúc với các đối tượng tương ứng. Ái thủ hữu bị giới định tuệ nhiếp phục ngay ở nơi sát na của tâm hiện tiền, thì chi mạt vô minh cũng sẽ bị giới định tuệ nhiếp phục và hủy diệt trong những sát na tâm tiếp theo.
- Phương pháp quán chiếu và diệt tận căn bản vô minh:
Căn bản vô minh là do duyên vào tâm bất giác mà vọng khởi. Bất giác nghĩa là không tỉnh giác. Vô minh là không hiểu rõ chân lý, theo các kinh điển thuộc văn hệ A hàm, giải thích rằng, vô minh là trạng thái của tâm mù quáng không thấy rõ pháp Tứ thánh đế. (Đại bản kinh – Trường a hàm 1, Đại Chính 1).
Luận Thành duy thức phân chia vô minh có hai loại gồm: Vô minh chủng tử và vô minh hiện hành. Vô minh chủng tử là vô minh ngủ ngầm ở trong tàng thức, nên nó cũng còn gọi là tùy miên vô minh. Hiện hành vô minh là vô minh trói buộc chúng sanh ở trong sanh tử hay thế giới mê lầm, vì vậy nó cũng còn gọi là triền vô minh. (Thành duy thức luận 8 – 9, Đại Chính 31).
Căn bản vô minh, ở Kinh Thắng man gọi vô thỉ vô minh trụ địa. Loại vô minh nầy là gốc rễ phát sinh hết thảy phiền não, chỉ có tuệ giác của Phật mới đoạn trừ hết sạch loại vô minh nầy. (Thắng man kinh bảo khốt, Đại Chính 12).
Luận Đại thừa khởi tín cho rằng, căn bản vô minh cũng còn gọi căn bản bất giác, ấy là niệm bất giác khởi lên đầu tiên nơi bản tâm. Niệm khởi lên đầu tiên ấy nơi bản tâm, không thấu triệt được chân lý, niệm ấy gọi là căn bản vô minh. (Đại thừa khởi tín luận, Đại Chính 32).
Như vậy, căn bản vô minh là gì? Bản tâm vốn thanh tịnh, niệm phân biệt nhân ngã khởi lên đầu tiên nơi bản tâm, niệm ấy là căn bản vô minh. Vì sao? Vì nó không còn có khả năng thấu triệt vạn pháp vốn như như, nên khởi lên nhân ngã sai thù, khiến bao nhiêu vô minh phiền não duyên vào chúng mà khởi sinh vô cùng, vô tận.
Nên, muốn đoạn trừ căn bản vô minh, thì phải quán chiếu thường trực đối với Không, Vô tướng, Vô tác và Vô nguyện ơ nơi thể tính của tâm giác ngộ.
Quán chiếu thể tính của tâm giác ngộ, vốn rỗng lặng, vốn là như, vốn không có tự tính, vốn không có nhân ngã, vốn không có pháp, vốn không có phi pháp. Pháp hay phi pháp đều là những ý niệm thuộc về vô minh. Thực tập quán chiếu như vậy, nên gọi là không quán. Do thành tựu pháp quán nầy mà căn bản vô minh bị diệt tận.
Thể tính của tâm giác ngộ vốn là rỗng lặng, vốn là như, không có tự tính, nên không có bất cứ tướng gì có thể khái niệm hay thủ đắc ở nơi thể tính giác ngộ ấy. Thường thực tập quán chiếu để thấy rõ thể tính giác ngộ vốn thanh tịnh vô tướng như vậy, nên gọi là vô tướng quán. Do thành tựu pháp quán nầy mà căn bản vô minh bị diệt tận.
Thể tính của tâm giác ngộ vốn rỗng lặng, vốn là như, vốn không có tự tính, nên thể tính ấy vốn không khởi niệm, vốn không diệt niệm, không do duyên vào bất cứ tác ý nào mà hình thành, nên gọi là vô tác quán. Do thành tựu pháp quán nầy mà căn bản vô minh bị diệt tận.
Thể tính giác ngộ vốn rỗng lặng, vốn là như, vốn không có tự tính, nên ở trong thể tính ấy, vốn không có bất cứ ước muốn nào khởi và diệt, nên gọi là vô nguyện. Thường quán chiếu để thấy rõ tự tính giác ngộ thường thanh tịnh như vậy, nên gọi là vô nguyện quán. Do thành tựu pháp quán nầy mà căn bản vô minh bị diệt tận.
Và diệt tận căn bản vô minh, thì chỉ có Phật mới diệt tận hoàn toàn. Tại sao? Bởi vì Phật là thường giác, là chánh biến giác, nên không có lúc nào là Ngài không giác. Và vì giác ngộ triệt để và cùng khắp, nên hết thảy vô minh đều vĩnh viễn đoạn tận. Kinh nói có bốn hạng người giác ngộ về nguyên lý duyên khởi như sau: “Bậc hạ trí quán chiếu mà không thấy được Phật tính, và do không thấy Phật tính, nên chỉ thành tựu đạo quả Thanh văn mà thôi.
Bậc trung trí quán chiếu mà không thấy được Phật tính, nên chỉ thành tựu quả Duyên giác mà thôi.
Bậc thượng trí quán chiếu Phật tính, có thấy, có hiểu, nhưng không thấu triệt, nên chỉ an trú vào địa vị Thập trú Bồ tát mà thôi.
Bậc thượng thượng trí, quán chiếu Phật tính, do thấy rõ và quán triệt, nên chứng đắc đạo quả Vô thượng bồ đề”. (Đại bát niết bàn kinh 27, tr 524b, Đại Chính 12).
Vì vậy, thực tập phương pháp tỉnh giác, ta có thể giảm trừ và đoạn tận hết thảy vô minh, chấm dứt toàn bộ hai loại phân đoạn và biến dịch sinh tử, đạt đến đời sống giải thoát hoàn toàn. Nên, vô minh mà diệt tận, thì không còn có bất cứ loại phiền não nào mà có thể tập khởi. Và vô minh đã bị diệt tận, thì không còn có bất cứ một loại khổ đau nào có lý do để hiện hữu. Mọi khổ đau đều bị diệt tận hoàn toàn theo sự diệt tận của vô minh. Nên, Phật là bậc Chánh biến giác hay Vô thượng giác.
Hiệu Quả Của Nhân Duyên Quán
Hiệu quả của nhân duyên quán là phá trừ chấp ngã, chấp pháp, đoạn tận chi mạt vô minh và căn bản vô minh, để thành tựu đời sống giải thoát và giác ngộ hoàn toàn. Vì vậy, kinh dạy “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi = Yo paticcasamuppādam passati so dhammam passati – yo dhammam passati so paticcasamuppādam passati”. (Mahāhatthipadopama Suttam, No 28, p 235, Majjhima Nikāya I, Pali Text Society 1958)
Và điều nầy kinh Đại bát niết bàn lại nói cụ thể hơn rằng: “Người nào thấy được lý Mười hai duyên khởi, chính người ấy đã thấy được pháp; Người nào thấy được pháp, chính người ấy thấy được Phật. Phật chính là Phật tính. Vì sao? Vì tất cả chư Phật đều lấy pháp duyên khởi làm tính”. (Đại bát niết bàn kinh 27, tr 524a , Đại Chính 12).
Thấy được pháp duyên khởi là thấy thực tại sinh diệt, thực tại vừa sinh diệt, vừa không sinh diệt và thực tại siêu việt sinh diệt ngay ở nơi các pháp duyên khởi sinh diệt. Thực tại sinh diệt là thực tại thế gian bao gồm Khổ và Tập; thực tại vừa sinh diệt, vừa không sinh diệt, đó là ba mươi bảy phẩm trợ đạo của Đạo đế. Ở trong Đạo đế, các thành phần trợ đạo thuộc về hữu lậu, hữu vi, nên có sinh diệt, còn Bát chánh đạo là Đạo, là Thánh đạo vô lậu, vô vi, nên không còn sinh diệt. Còn Diệt đế là hoàn toàn là vô lậu, vô vi, nên là thực tại siêu việt sinh diệt. Đối với các pháp duyên khởi, Diệt đế được hiểu là Tánh - không và đối với pháp giải thoát, thì Diệt đế được xem như là Niết bàn. Tánh - không hay Niết bàn đều là thực tại siêu việt sinh tử, siêu việt ngôn thuyết, siêu việt mọi ý niệm. Pháp ấy chỉ có thực hành mới thấy, mới chứng nghiệm, như đức Phật đã dạy: “Pháp do ta chứng ngộ thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ có người trí mới thấu hiểu,...”.
Kết Luận
Giáo lý Duyên khởi phủ nhận triệt để đối với các học thuyết thiết lập trên nền tảng ngã tính và nó cũng phủ nhận triệt để đối với mọi lý thuyết cho rằng các pháp là thường tại hay biến mất hoàn toàn.
Và hiệu quả của nhân duyên quán là phá trừ ngu si tà kiến đối với ngã và pháp một cách triệt để, làm dẫn sinh chánh kiến và chánh giải thoát.

Phật giáo Việt Nam và dân tộc Việt Nam.

       HT Thich Chơn Thiện.                                                                                                                            Các ngôi chùa lànglà đại diện cho linh hồn của văn hóa thôn, bản sắc dân tộc Việt Nam… Phật giáo và Dân tộc Việt Nam đãcó mối liên cùng chung sinh mệnh…” - Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài nghiên cứu của Hòa thượng, ĐBQH Thích Chơn Thiện về sứ mạng gắn kết của đạo Phật và LS phát triển của dân tộc Việt.
Từ khi có mặt trên đất Việt, Phật giáo đã gắn bó theo từng nhịp thăng trầm của dân tộc. Dù ở hoàn cảnh nào của lịch sử, sứ mệnh của Phật giáo luôn vẫn là sứ mệnh cứu khổ, phò nguy cho dân tộc, như lời dạy cứu khổ của Đức Phật.
Quốc sư Khuông Việt (Triều Đinh, Lê và Lý)
Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, thống nhất đất nước và ổn định chủ quyền. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, vua Đinh Tiên Hoàng lập chức Tăng thống Phật giáo (đứng đầu Giáo hội) và đặt chức quan Tăng lục - chứng tỏ bấy giờ đã có nhiều tăng sĩ và nhiều cư sĩ.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: “Năm thái bình thứ hai (971), bắt đầu quy định cấp bậc văn, võ, tăng đạo... Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục ...”. [NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1993, Tập I, tr.212]
Dưới thời Bắc thuộc, việc học trong nước bị hạn chế nhiều, chỉ có các nhà tu là có điều kiện tự trau dồi học vấn, và mở lớp học ở chùa cho dân, miễn phí. Một số tăng tài thì dấn thân giúp dân, giúp nước, cống hiến các kiến thức kinh bang tế thế, thảo văn kiện, chiếu chỉ, biên soạn sử liệu, thi phú...

Đại sư Ngô Chân Lưu là tăng tài xuất chúng đã phò tá vua Đinh, khuông phò nước Việt. Sau đó, Đại sư tiếp tục phò tá vua Lê Đại Hành. Đại sư đã cùng với Pháp Thuận, Vạn Hạnh thiền sư giúp Lý Công Uẩn đăng ngôi, mở ra cơ nghiệp nhà Lý đưa dân tộc đi vào thời kỳ lịch sử của thực sự độc lập, tự chủ, tự cường.
Sư Vạn Hạnh, ngoài danh nghĩa thiền sư lỗi lạc của triều Lý còn được đời biết đến như một nhà phong thủy, dịch lý thời danh. Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang, ghi: ”Về phong thủy học, các thiền sư Định Không (730 - 808), La Quý An (852 - 936), và Vạn Hạnh (- 1068) đều là những người nổi tiếng. Ta có nhiều lý do để tin rằng quốc sư Vạn Hạnh, thầy của Lý Công Uẩn, là người đã thuyết phục vua này dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long trong ý nguyện bảo vệ cho nền độc lập lâu dài ...” [NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1993, tr.136 - 137]
Tinh thần Nho giáo "trung thần bất sự nhị quân" (tôi trung không thờ hai chúa) nếu gắn vào trường hợp hoàng tử bé bỏng của Đinh Tiên Hoàng, hay vua trẻ thâm ác, bệnh hoạn Lê Long Đỉnh, thì đất nước sẽ suy vong.
Cơ may, thiền sư Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh thấm nhuần tinh thần phóng khoáng, vô chấp, và trí tuệ của nhà Phật, chỉ một tâm phò tá hiền tài vì nghĩa lớn của tổ quốc, vì hạnh phúc, an lạc của nhân dân, nên Việt Nam đã mở ra một thời kỳ lịch sử hùng cường, uy vũ của Lê Đại Hành và Lý Thái Tổ. Đây là một bài học lịch sử quý báu!
Đời Lý Thái Tổ, nhờ tài đa văn, quảng kiến, một lòng vì nước, thiền sư Vạn Hạnh đã thuyết phục được nhà vua xuống chiếu dời đô từ Hoa Lư ra Đại La (Thăng Long; Hà Nội ngày nay) mở ra một vận hội mới cho 400 năm Lý, Trần vẻ vang, lập được nhiều chiến công bất hủ ảnh hưởng đến quốc tế, và tiếp nối các chiến công về sau đánh gục quân Minh, Thanh và đại thắng Pháp, Mỹ cho đến thời hiện đại, năm châu đều biết tiếng...

Hình ảnh của quốc sư Vạn Hạnh là hình ảnh tiêu biểu nhất về những gì mà Phật giáo Việt Nam và một tu sĩ Phật Giáo Việt Nam có thể đóng góp cho dân tộc Việt Nam.
Lý Thái Tổ (944 - 1028)
Qua Đại Việt Sử Ký Toàn Thư  và Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Lý Thái Tổ là vị vua sùng Phật, nhận ảnh hưởng giáo dục từ sư Lý Khánh Văn và sư Vạn Hạnh từ năm lên ba. Được một chiến dịch vận động ngầm của các thiền sư, Lý Công Uẩn Thân vệ lên ngôi năm 1010, mở ra cơ nghiệp nhà Lý.
Năm ấy, vua dời đô về Thăng Long (Hà nội ngày nay), chăm lo quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa giáo dục và xã hội. Song song với công việc triều chính, vua cho xây các chùa, chú tượng, đúc chuông, thỉnh kinh, chép kinh và cổ xúy hàngthanh niên ưu tú Thăng Long xuất gia đầu Phật. Nhà vua làm thế, không phải là thuần do mộ Phật, đáp nghĩa các sư, mà động cơ chính là mục tiêu chính trị, văn hóa.
Phật giáo Việt Nam tạo nên nét văn hóa Đại Việt độc lập với văn hóa phương Bắc (vốn nặng màu Khổng, Lão), vừa góp phần cô kết lòng dân, nuôi dưỡng tinh thần tự chủ, độc lập, tự cường của dân tộc (giáo lý Phật giáo đề cao tự chủ, trừ bỏ nô lệ).
Chủ trương chính trị, văn hóa này vốn đã được đại đế A Dục (Asoka) xứ Ấn thực thi thành công rực rỡ từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch, và tiếp tục được nhà chính trị lỗi lạc Trần Thủ Độ phát triển trong 200 năm văn hóa đời Trần, dẫn đến các chiến công lịch sử rạng rỡ (ba lần đánh tan quân Nguyên Mông, đoàn quân đã bách thắng ở châu Âu và ở Trung Hoa (đời Tống).

Đấy là sách lược quốc gia có tầm nhìn chân xác vậy.
Lý Thái Tông (1000 - 1054)
Vua rất thông minh, thông tỏ thế học và Phật học, có lòng tự tin rất cao về sở kiến, sở đắc, sở ngộ của mình, từng xem mình như đồng đẳng với thiền tố Tỳ-Ni-Đa-Lưu - Chi (Vinitaruci) - người gốc Ấn, đắc pháp với tam tổ Tăng Xáng (Trung Quốc) là khai tổ dòng thiền Tỳ - Ni - Đa - Lưu - Chi ở Việt Nam.

Nhận xét về Lý Thánh Tông, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: “..... ở ngôi 27 năm (1028 - 1054), thọ 55 tuổi (1000 - 1054_, băng ở điện Trường Xuân. Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quan Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông”. (Tập I, tr. 253)
Lý Thánh Tông (1023 - 1072)
Lý Thánh Tông là vị vua nhân hậu, anh minh, thông văn võ, là sư tổ thiền phái Thảo Đường Việt Nam. Vua có thần phi Ỷ Lan tuổi trẻ thông tuệ - năm 23 tuổi đã nổi tài nhiếp chính, Thừa tướng Lý Đạo Thành lão luyện, nghiêm trung và nguyên soái Lý Thường Kiệt kiệt xuất.

Triều Thánh Tông đã lập nhiều chiến công hiễn hách: Bắc thắng Tống, Nam Bình Chiêm; đã lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc lập Văn Miếu, mở khoa thi bác học, mở mang học vấn cho dân ( theo Thơ văn Lý Trần, 1977).

Dân tộc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam như là kết lại thành một trong tâm thức nhà vua, và trong triều đình của người. Bản truyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc được tuyên cáo dưới ảnh hưởng của vua, qua nguyên soái Lý Thường Kiệt, đã làm rã đám đại quân nhà Tống.
Vua tôi Thánh Tông đã giữ nước anh hùng một thuở, rạng rỡ tông phong Hồng Lạc.
Lý Nhân Tông (1066 - 1128)
Vua là sự kết hợp tinh anh giữa Vua Thánh Tông và Ỷ lan, được Lê Quý Đôn ca tụng: “Xứng đáng là vị anh quân đời Lý”. Vua tiếp nối vương nghiệp của Thánh Tông, dưới sự dẫn dắt, cố vấn của Thái hậu Ỷ Lan: sùng Phật; phát triển văn học, giáo dục; mở mang tam giáo, đặc biệt là trọng Nho; chăm lo cho quốc phòng, luật pháp, đạo đức của muôn dân; thể hiện đại đoàn kết trong, ngoài triều. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi nhận: “..... vua lên ngôi hoàng đế, ở ngôi 56 năm (1072 - 1127), thọ 63 tuổi (1066 - 1127), băng ở điện Vĩng Quang. Vua, ....., sáng suốt thần võ, trí tuệ, hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp, người theo, thông âm luật, chế ca nhạc,....., là vua giỏi của triều Lý.” [sđd., tr. 276]
Nhận xét chung về triều Lý, giáo sư Hoàng Xuân Hãn, một nhà khoa học và nghiên cứu, đánh giá: “Đời Lý có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Đó chính là ảnh hưởng của đạo Phật”. [Việt Nam PGSL, Nguyễn Lang,....., tr. 199]
Thời bấy giờ, các danh tăng Phật giáo có nhiều, sau Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh, là thiền sư Huệ Sinh (- 1063), Mãn Giác (1052 - 1096), Không Lộ (- 1119), vv... các vị đều chứng ngộ sự thật về khổ, vô thường, vô ngã (hay khổ, vô thường, không, vô ngã), một nguồn giáo lý hưng khởi trí tụê, từ bi và vô úy. Các vua, và một số đại thần, tướng quân, và các danh tăng là các nhân tố chính của sức mạnh tinh thần, văn hóa đời Lý: Phật giáo là của dân tộc, và dân tộc là của Phật giáo; đấy là hai tên gọi của một thực thể nhân dân Việt Nam độc lập, tự do và hạnh phúc.
Vua Trần và Thiền sư nhà Trần
Dưới đời Trần, ngoài sự đổi mới về dòng dõi lãnh đạo, Phật giáo tiếp tục giữ vai trò chủ đạo văn hóa, và tam giáo (Phật, Lão, Nho) đồng thời phát triển: Bấy giờ xuất hiện các khoa thi tam giáo. Vị vua Phật giáo anh minh Trần Nhân Tông đã phát biểu: Người chưa rõ gốc tâm thì sai lầm cho rằng ba tôn giáo khác biệt; người rõ gốc tâm thì thấy rằng cả ba giáo đều cùng phát triển một nguồn tâm.
Vua Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, và Anh Tông (và cả Minh Tông) đều thâm hiểu Phật giáo, và thâm chứng giải thoát của nguồn tâm, đã đưa đất nước và Phật giáo Việt Nam vào thời kỳ cực thịnh.

Tinh thần đoàn kết và dân chủ đã được thể hiện rộng rãi hơn ở trong và ngoài triều đình, qua các Hội nghị Diên Hồng, Bình Than để nhân dân tướng sĩ tham gia ý kiến quyết định cuộc chiến: hòa hay chiến?

Vì thế mà sức mạnh của tiềm lực dân tộc bùng dậy mạnh mẽ, ba lần đánh sụm quân Nguyên Mông, chiến công còn để lại sự kinh ngạc cho thế giới ngày nay.

Vua Trần Nhân Tông tổ chức thống nhất các dòng thiền ở Việt Nam (Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường) vào dòng thiền đầy sắc Việt Nam: Trúc Lâm Yên Tử dương thiền… kết hợp chặt chẽ văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc, như các nhà nghiên cứu văn hóa thường đề cập.

Tiêu biểu như lời khuyên của Trúc Lâm quốc sư (Viên chứng) đối với Thái Tông rằng: “Trong núi vốn không có Phật. Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lắng, tuệ hiện, đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì thành Phật ngay tại chỗ, không phải đi tìm Phật cực khổ ở bên ngoài. Phàm làm đấng nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, và tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn bệ hạ về, bệ hạ không về sao được? Chỉ mong bệ hạ đừng xao lãng việc nghiên cứu Phật học”. [VN PGSL, Nguyễn Lang,...,tr221,222]
Tự thân vua Thái Tông và triều đình Trần Thái Tông cũng là một biểu hiện sinh động rằng: Phật giáo Việt Nam và Dân tộc Việt Nam là một.
lotusout
Ản minh họa: hast.sinica.edu.tw


Trong lần giáp mặt quân Nguyên Mông đến xâm lược Việt Nam lần đầu, Trần Thái Tông và Thái tử xông pha đầu trận trước lằm tên, mũi giáo, và đã đại phá quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu, đuổi thẳng giặc về Bắc. Đại Việt Sử ký toàn thư viết: ‘’... Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp, truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy’’. [ĐVSKTT, Tập II, tr7]
Trần Thánh Tông chịu ảnh hưởng rất đậm của Thái Tông, thông hiểu Phật và Nho, tiếp tục phát huy các thành quả lịch sử, xã hội của vua cha, và chuẩn bị giáo dục kỷ Nhân Tông, vị vua giác ngộ Phật pháp, đưa đến thời kỳ hiển hách nhất đời Trần: Mạnh đủ các mặt quốc phòng, văn hóa, giáo dục, kinh tế, xã hội...

Các vua Trần, dù đặc biệt mộ Phật, nhưng chủ trương phát triển tam giáo (Phật, Lê, Nho) vì mục tiêu đại đoàn kết dân tộc Việt Nam. Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang, ghi: ‘’Phật giáo đã để cho Nho giáo và Lão giáo tự do phát triển... Năm 1253, Thái Tông lập Quốc Học Viện ở kinh sư, và tạo tượng Chu Công Khổng Tử, Mạnh Tử, và vẽ tranh 72 vị tiền hiền để thờ cúng, Thánh Tông đã cho hoàng đệ là Trần Ích Tắc mở trường dạy Nho học... mở các khoa thi năm 1232, 1247... để kén chọn nhân tài. Nền giáo dục hồi đó còn mang tính chất tổng hợp tam giáo..."
Nói về giới sĩ phu đời Trần, Lê Quý Đôn đã viết trong Kiến Văn Tiểu Lục : ‘’Các vị ấy phẩm hạnh và thanh giới cao khiết, có tư cách người trí thức quân tử như đời Tây Hán, không phải kẻ tầm thường sánh được, bởi nhà Trần đãi kẻ sĩ một cách khoan dung..., làm cho quang vinh sử sách, không thẹn với Trời, Đất, há phải đời sau kịp được đâu’’. [VNPGSL,...,tr.391]
Tương tự đời Lý, đời Trần có nhiều danh tăng Phật giáo ra đời, như Tuệ Trung thượng sĩ, Huyền Quang, Pháp Loa, Bảo Phát, Tông Cảnh, Nhất Tông, Viên Chứng... Tư tưởng Phật học thâm trầm, thi ca vào hàng thượng đẳng, như ba tập Thơ Văn Lý, Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội - dù tài liệu thi ca, văn học đã bị quân Minh tiêu hủy rất nhiều.
Nếu không bị ảnh hưởng nặng nề bởi chủ trương hủy diệt văn hóa Việt của phương Bắc, thì kho tàng văn hóa Lý, Trần sẽ vô cùng phong phú, để lại một niềm tự hào lớn trong lịch sử dân tộc.
Nhà văn hóa, chiến lược Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi là cháu ngoại của cụ Tư đồ Trần Quốc Đán, hàm Tể tướng, dưới triều vua Trần Duệ Tông và Trần Đế Nghiễn, thời mạt Trần.
Theo sử liệu ‘’Thơ văn Lý Trần, tập III’’, ‘’Nguyễn Phi Khanh’’ (NXB Văn Học, Hà Nội 1981) và ‘’Văn học Việt Nam’’ (Phạm Diêu, Saigon 1960), có những điểm cần ghi lại:
- Tú tài Nguyễn Phi Khanh làm gia sư ở nhà cụ Tư đồ; yêu thầm Trần Thục Trinh (Trần Thị Thái), con gái của cụ;

- Khi Thục Trinh mang thai, Phi Khanh sợ rơi đầu mà lẫn trốn.

- Cụ Tư đồ và phu nhân đầy từ tâm, điệu Phi Khanh về; tha thứ; tác thành đôi lứa; nuôi Phi Khanh tại dinh Tể tướng; năm Nguyễn Trãi lên năm, Thục Trinh qua đời ; Nguyễn Trãi theo ông ngoại về ở Côn Sơn sau ngày mẹ mất; được ông ngoại thương yêu, trực tiếp giảng dạy đến năm lên mười thì ông ngoại mất, Nguyễn Trãi về sống trong cảnh hàn vi với bố Phi Khanh, và học chữ từ bố.

- Lúc giặc Minh đánh bại nhà Hồ (Hồ Quý Ly), Phi Khanh bị bắt; Nguyễn Trãi theo phò Lê Lợi khởi nghĩa và đại thắng quân Minh, viết bài đại cáo ‘’Bình Ngô’’ rất lịch sử; sự nghiệp kinh bang của người kết thúc từ vụ án ‘’Vườn Lệ Chi’’ rất bi thiết !.
Nhân ngày kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, trong bài diễn văn khai mạc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đọc: ‘’... Nguyễn Trãi là một tiêu biểu rất đẹp của thiên tài Việt Nam, tiêu biểu về sự nghiệp giữ nước và dựng nước, về xây dựng cuộc sống với những tình cảm đẹp đẽ giữa người và người, thiên tài lộng gió bốn phương và vẫn giữ nguyên vẹn bản lĩnh và tinh hoa của dân tộc, kiên trì phấn đấu vì sự nghiệp cao quý của mình cùng với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân thế giới’’.
Trong dịp này, đại tướng Võ Nguyên Giáp phát biểu: ‘’Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà chiến lược thiên tài, nhà tư tưởng lớn, nhà văn hào kiệt xuất, một con người mẫu mực của thời đại mình, đã để lại cho chúng ta những di sản vô cùng quý báu, góp phần to lớn cho dân tộc ta, nhân dân ta có thêm sức mạnh, quyết tâm và tin tưởng để hăng hái tiến lên hoàn thành nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc’’. [Kỷ niệm 600 năm ngày sinh NT, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1982, t r21]
Nguyễn Trãi ra đời từ tâm khoan dung và nhân ái của cụ Tư đồ và phu nhân; tiếp thụ văn hóa Phật giáo từ môi trường sống ở gia đình ông bà ngoại, chịu ảnh hưởng sâu đậm tình yêu nhân dân, đất nước của cụ Tư đồ và Tiến sĩ Nguyễn Phi Khanh.
Trường hợp của Nguyễn Tiên Sinh quả là một trường hợp quý hiếm cung cấp tư liệu về ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo Việt Nam đối với dân tộc và văn hóa dân tộc Việt Nam.
Các ngôi chùa làng Việt Nam, như là linh hồn của văn hóa thôn, bản Việt nam, nếu hằng năm cử hành lễ tưởng niệm nhà đại văn hóa Nguyễn Trãi, thì thật là ý nghĩa, tiếng chuông cha sẽ ngân xa hơn, vang mãi âm thanh nhân Nghĩa Việt Nam. Phật giáo Việt Nam và Dân tộc Việt Nam từng có mối liên hệ như thế, mối liên hệ của cùng chung sinh mệnh.

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011

THONG DONG GIỮA ĐÔI BỜ THUẬN NGHỊCH.

Ta làm và nói sai, nhưng ta lại được nhiều người khen ngợi mỗi ngày, như vậy mỗi ngày đi qua đời ta là mỗi ngày đưa đời sống của ta đi dần vào bóng đêm và từ bóng đêm này dẫn ta đi tới bóng đêm khác.
Ta làm đúng và nói đúng, nhưng ta lại bị nhiều người chỉ trích mỗi ngày, và như vậy mỗi ngày đi qua đời ta là mỗi ngày đưa ta từ bóng đêm bước ra ánh sáng và từ ánh sáng này, ta bước tới ánh sáng khác.

Chân lý không thuộc về sự khen ngợi hay chỉ trích, mà thuộc về ở nơi người nào thấy và biết đúng, nghe và cảm nhận đúng, sống đúng, nói và làm đúng.

Lằn mức giữa đúng và sai thật vô cùng vi tế và thẳm sâu, nên có những suy nghĩ, có những việc làm của ta, ở độ tuổi nầy thì đúng, mà bước qua độ tuổi khác lại là sai; ở buổi sáng thì đúng, mà ở buổi chiều thì sai; ở phút trước thì đúng, mà ở phút sau thì sai; đối với hoàn cảnh nầy thì đúng, nhưng ở hoàn cảnh khác thì sai; đối với người nầy thì đúng, mà đối với người khác thì sai, và cùng một vấn đề, mà ta nhìn nó từ góc độ nầy, thì nó đúng, nhưng ta nhìn nó với một góc độ khác thì sai.

Nên, đúng và sai là tùy theo mức độ hiểu biết của ta, liên hệ đến ô nhiễm hay thanh tịnh, sâu hay cạn, rộng hay hẹp của tâm ta.

Hễ tâm ta càng ít ô nhiễm và càng ít bị xáo động, thì cái biết của ta đi dần tới với cái đúng và ta có thể thường trú ở trong cái đúng. Hễ tâm ta bị ô nhiễm và xáo động, thì cái biết của ta càng lúc càng đi dần tới với cái sai lầm và ta có thể cộng trú thường trực với cái sai lầm ấy.

Ta thấy đúng và biết đúng đối với mọi sự hiện hữu, là do tâm ta yên lắng, không bị xáo động bởi các vọng tưởng, hoàn toàn không bị lay động và thụ động bởi các ngã tưởng và các dục. Ta sống với tâm như vậy, thì lúc nào và ở đâu, ta cũng không bị hoàn cảnh sai sử và không bị các hình tướng đánh lừa. Ta nghe với tâm yên lắng, không bị xáo động bởi các tưởng, thì ở đâu và lúc nào, ta cũng có sự tự do đối với cái nghe và ta không bị mọi ngôn ngữ và âm thanh đánh lừa. Ta cảm nhận từ mọi sự xúc chạm với tâm yên lắng và không bị xáo động đối với các vọng tưởng, thì sự cảm nhận của ta là sự cảm nhận đúng, nên lúc nào và ở đâu, ta cũng không bị các cảm giác và tri giác đánh lừa.

Ta nuôi dưỡng đời sống bằng tâm yên lắng và không bị xáo động, thì lúc nào và ở đâu, ta cũng có tự chủ, không bị các loại ăn mặc và các thực phẩm ăn uống đánh lừa. Ta nuôi dưỡng đời sống bằng tâm chân thực, bằng sự hiểu biết sáng trong, bằng những hành động và những lời nói đúng đắn, thì lúc nào và ở đâu, ta cũng có đảm lực để sống, ta không bị thời gian khuất lấp, không bị những sự sợ hãi chi phối và không bị những sự hư dối đánh lừa.

Ta làm đúng, thì nhân quả đến với ta đúng như những gì ta đã làm. Ta làm sai, thì nhân quả cũng đến với ta đúng như những gì ta đã làm sai.

Ta muốn ăn cam, ta trồng cam, hội đủ nhân duyên, cam sẽ cho ta trái ngọt. Ta muốn ăn cam mà gieo hạt quýt, hội đủ nhân duyên, quýt sẽ ra trái cho ta mà không phải là cam.

Như vậy, ta thấy đúng, biết đúng và làm đúng, thì nhân quả đúng tự đến với ta. Ta thấy biết sai và làm sai, thì nhân quả đúng như với cái sai cũng tự đến với chúng ta.

Ta muốn ăn cam mà lại trồng quýt và chăm sóc quýt, hội đủ nhân duyên, thì ta chỉ có thành quả của quýt mà không phải là thành quả của cam, như vậy ta bị rơi vào tình trạng khổ đau là do ta mơ ước mà không thành.

Mơ ước không thành là do tâm ta, mà không phải do nhân quả hay do cuộc đời. Cuộc đời của ta chính là tâm ta và nhân duyên, nhân quả của cuộc đời ta là tùy thuộc vào tâm ta mà biểu hiện. Không có nhân duyên và nhân quả nào tách rời khỏi tâm ta mà hình thành và biểu hiện cả. Tâm ta chính là nguồn gốc cho nhân duyên, nhân quả của cuộc đời ta hình thành và biểu hiện.

Do ta không nhận biết cụ thể và chính xác nhân duyên, nhân quả giữa những hạt giống cam và quýt; do ta không biết phương pháp để chăm sóc; và do ta không biết thời vụ và chất đất để gieo trồng, nên ta mong muốn một đường, mà kết quả đến với ta một nẻo.

Không có nhân duyên, nhân quả nào, khi ta gieo hạt giống cam mà quả lại cho ta là quýt và cũng không có nhân duyên, nhân quả nào, ta gieo hạt giống quýt mà quả lại cho ta là cam.

Cũng vậy, không có thành quả của an lạc và hạnh phúc nào đến với người tâm nghĩ ác, miệng nói ác, thân làm ác. Và cũng không có thành quả khổ đau và thất vọng nào đến với người tâm nghĩ thiện, miệng nói thiện và thân hành thiện.

Nếu vì bản thân ta, mà nghĩ đến điều thiện, miệng nói điều thiện và nỗ lực làm việc thiện, thì thiện ấy chưa phải là thiện của thiện, nên an lạc đến với ta rất ít, mà khổ đau và thất vọng đến với ta rất nhiều. Vì vậy, ta không ngạc nhiên gì, ở giữa đời đã có nhiều người tự cho mình là hành thiện, nhưng trong đời sống của họ chỉ sinh ra những trái đắng và khổ đau.

Nếu không vì bản thân ta mà tâm nghĩ đến điều thiện, miệng nói điều thiện và nỗ lực làm thiện mỗi ngày, thì thiện ấy mới đích thực là thiện. Thiện ấy là điểm để cho niềm tin và an lạc trong tâm ta phát sinh và nhân duyên, nhân quả tốt đẹp hình thành trong đời sống của ta.

Một người biết sống yêu thương và tử tế với chính mình, người ấy không phải chỉ biết khắc phục hậu quả khổ đau, mà còn phải biết cách lấy những hạt giống khổ đau ra khỏi tâm thức của chính họ, khiến cho mọi nhân duyên, nhân quả khổ đau không còn có điều kiện sinh khởi ở trong đời sống của họ nữa. Và một người thông minh, giàu lòng nhân ái, người ấy không phải chỉ biết giúp người khác khắc phục hậu quả khổ đau, mà còn phải biết cách giúp cho người khác, thoát ra khỏi những hạt giống khổ đau ở nơi tâm thức của chính họ nữa.

Khổ đau hay hạnh phúc đến với chúng ta là từ nơi tâm thức của mỗi chúng ta. Nên, mỗi khi đối diện với khổ đau hay hạnh phúc là ta có cơ hội để tiếp xúc với những hạt giống thiện, ác ở nơi tâm ta. Tiếp xúc với những hạt giống bất thiện ở nơi tâm ta, không phải để đối phó, mà để nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa, khiến chúng đi về theo hướng hiền thiện. Và tiếp xúc với những hạt giống thiện ở nơi tâm ta không phải để tự mãn, mà để tiếp tục nuôi dưỡng và thăng hoa chúng đến chỗ thuần thiện.

Tiếp xúc và làm chủ tâm ta mỗi ngày, điều ấy không phải là dễ, tại sao? Vì tâm ta không có hình tướng. Nó vĩ đại thì trong thế gian nầy không có gì vĩ đại cho bằng; nó tinh vi, thì ở trong thế gian nầy, không có cái gì tinh vi cho bằng; nó bén nhạy và linh hoạt, thì ở trong thế gian nầy không có cái gì bén nhạy và linh hoạt cho bằng; nó độc ác thì ở thế gian nầy không có cái gì độc ác cho bằng; nó thánh thiện thì ở trong thế gian nầy không có cái gì thánh thiện cho bằng.

Vì vậy, tiếp xúc và làm chủ tâm là cả một công trình tu luyện liên tục và miên mật.  Và cũng vì vậy, ai tiếp xúc và làm chủ được tâm, người ấy mới có khả năng làm chủ được nhân duyên, nhân quả của đời mình, làm chủ được sự sống chết và tự tại giữa muôn ngàn diệt sinh, ảo hóa của vạn duyên và vạn hữu.

Nếu ta không làm chủ được tâm ta, thì ta sống với ai, ta cũng sẽ buồn chán, sống với xứ sở nào ta cũng sẽ thất vọng. Và nếu ta làm chủ được tâm ta, thì ta sẽ làm chủ được vạn duyên trong đời sống của ta, nên sống với ai ta cũng vui. Ta sống với thiện hữu tri thức ta vui đã đành, mà sống với ác tri thức cũng không làm cho niềm vui của ta bị suy giảm. Sống với thiện tri thức ta cũng có điều kiện để học hỏi và thăng hoa, mà sống với ác tri thức ta cũng có điều kiện để nhìn lại mình, mà phòng hộ và chuyển hóa. Sống trong thuận cảnh, ta vui đã đành mà sống trong nghịch cảnh, niềm vui của ta cũng không hề bị tổn giảm. Sống trong thuận cảnh, ta cũng có điều kiện để thăng hoa, mà sống trong nghịch cảnh, ta cũng có điều kiện để tôi luyện và phát huy nội lực.

Nghiệm cho cùng, sống giữa đời không có ai tồn tại trong thuận cảnh đơn thuần và cũng không có một ai tồn tại đơn thuần giữa nghịch cảnh. Nghịch và thuận là hai mặt tương sinh trong đời sống của mỗi chúng ta. Cũng như hai cánh tay phải và trái là hai khía cạnh của một thân thể lành mạnh, linh hoạt và tháo vát. Một thân thể lành mạnh, linh hoạt và tháo vát không bao giờ chỉ biết hoạt động một tay hay một chân.

Trong đời sống hàng ngày của chúng ta, ta thuận với cái nầy, thì ta nghịch với cái khác và ta nghịch với cái nầy, thì ta thuận với cái khác. Ta chỉ có hạnh phúc và có khả năng hướng thượng, khi ta nhận ra được sự thật của lẽ thuận nghịch ấy trong đời sống của ta và chung quanh ta. Ta phải biết tác dụng thực tế của hai mặt thuận nghịch, ngay trong đời sống của mỗi chúng ta. Và ta phải biết làm chủ tâm ta ngay trong cái lẽ thuận nghịch ấy của cuộc sống.

Ta cần nhìn thật trầm tĩnh và sâu sắc để thấy rằng, ở trong đời có những cái thuận với ta cũng có khi giúp ta, nhưng cũng có khi hại ta và có những cái nghịch với ta cũng có khi là hại ta, nhưng cũng có khi giúp ta rất nhiều. Nên, vấn đề an lạc và hạnh phúc của ta không phải là ở nơi sự từ chối nghịch chạy theo thuận, mà ta phải biết làm chủ tâm ta giữa hai lẽ thuận và nghịch ấy của cuộc sống. Ta cần phải nhìn sâu để biết rằng, chân lý của cuộc sống là bao gồm cả hai lẽ thuận và nghịch, nếu từ chối thuận hay từ chối nghịch, thì ta không có lý do gì để hiện hữu.

Cũng như ánh sáng là chân lý và tác dụng của ngọn đèn, nếu ngọn đèn chỉ chấp nhận điện tử dương, mà từ chối điện tử âm hoặc chỉ chấp nhận điện tử âm mà không chấp nhận điện tử dương, thì ánh sáng và tác dụng của ngọn đèn không bao giờ phát ra, khiến cho sự có mặt của cây đèn trở thành vô dụng và vô nghĩa. Ánh sáng của ngọn đèn chỉ phát ra và có tác dụng lợi ích cho cuộc sống, khi nào bản thân ngọn đèn có khả năng tiếp nhận và làm chủ hai dòng âm dương, thuận nghịch đến với nó và hoạt động trong nó. Cũng vậy, mỗi khi ta đã làm chủ được tâm ta, khiến tâm ta hoàn toàn không bị chi phối bởi các vọng tưởng, thì hai lẽ thuận nghịch trong đời sống của mỗi chúng ta, giúp cho ta đi tới với đời sống tự do và khiến cho ta thong dong giữa đôi dòng thuận nghịch.

Thuận và nghịch trong đời sống của mỗi chúng ta, chẳng khác nào đôi cánh phải và trái của chú chim đại bàng đã giúp cho chú bay liệng giữa bầu trời cao rộng và tự do.
Thuận và nghịch trong đời sống của mỗi chúng ta, cũng phải thường trực quán chiếu như vậy, để lúc nào và ở đâu, ta cũng làm chủ được tâm ta, để ta có khả năng chế tác ra hạnh phúc và an lạc cho ta và cho mọi người, khiến cho ai cũng có thể thực hiện đời sống thong dong giữa đôi dòng thuận nghịch.
                                                                                    T H.

NÓI VỚI EM.

Em đã gặp tôi nhiều lần tại Thất Lắng Nghe, Chùa Từ Hiếu, và em cũng đã nhiều lần gọi điện thoại đến tôi để nói về những nỗi băn khoăn của em đối với cuộc sống và em đã từng hỏi tôi rằng sống là gì? Nghe em hỏi, Tôi chỉ im lặng, mỉm cười, thở và bước đi, sau đó tôi lại bước về chỗ ngồi và cùng nói chuyện với em, tôi lại hỏi em rằng, theo em sống là gì ?

Em buột miệng trả lời ngay với tôi rằng: "Sống là lo âu, là sợ hãi, là giành giựt, là đấu tranh, là dối trá, là mạnh được yếu thua, là lập phe, lập nhóm để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi cho nhau... sống như vậy, em chán ngấy rồi, em không muốn sống nữa, em muốn chết thôi, chết để cho nó khỏe, để khỏi thấy nhiều điều trái tai, gai mắt từ gia đình đến xã hội thầy ạ!"

Nghe em nói, tôi biết trong em có quá nhiều hạt giống bất mãn và khổ đau, và nhìn nét mặt của em, tôi biết em có quá nhiều đêm trằn trọc không ngủ và nhìn em cười, tôi biết trong em ấp ủ quá nhiều nỗi thương đau. Em nói, em không biết em là gì trong tương lai, và ngay cả gia đình cũng như xã hội, em cũng không biết tương lai của chúng sẽ là gì?

Tôi biết trong cuộc sống, em đã có quá nhiều khó khăn và khổ đau. Nhưng thôi, em đừng thắc mắc và nghĩ ngợi nữa, em hãy tập ngồi yên năm, ba phút để thở có ý thức đi, rồi tôi sẽ nói chuyện cho em nghe!

Em ơi, những khó khăn và khổ đau mà em vừa nói, thì ở trong đời này ai mà không có, và ai mà không có một vài lần đã chạm trán như vậy!

Tuy nhiên, cuộc sống không phải chỉ toàn là những khó khăn và không phải chỉ toàn là những thất vọng và khổ đau như em nói, mà còn có mặt của những thuận lợi và của những hạnh phúc và an lạc nữa chứ!

Em cứ suy nghĩ đi, em đã có đôi mắt để tiếp xúc thường trực với ánh sáng, để thấy được những gì mà em cần muốn thấy, thấy được hình ảnh của các bậc thánh thiện, thấy được bàn thờ của tổ tiên, thấy được mặt cha và mẹ, thấy được mặt của anh chị em, bạn bè, người yêu, đồng loại và mọi loài, thấy được con đường để tự đi, thấy được núi cao, biển rộng và sông dài, thấy được chữ nghĩa để đọc những gì em cần muốn đọc, em có thể nhìn thấy trời xanh mây trắng, và nhìn xa hơn, em có thể thấy được trăng sao lấp lánh từ những cõi không gian vô cùng. Như vậy, những điều kiện thuận lợi để cảm nhận hạnh phúc, vốn đã có sẵn trong em một cách phong phú và kỳ diệu, sao em lại còn trách móc và khổ đau!

Em cứ suy nghĩ đi, em đã có đôi lỗ tai một cách toàn hảo, để em có thể lắng nghe và hiểu những gì mà những người thương yêu của em nói cho em nghe, em có thể nghe được tiếng thác đổ, tiếng suối reo, tiếng sóng vỗ từ biển khơi, tiếng gió thổi, tiếng rơi của mưa và lá, tiếng chim hót, tiếng của giun dế trong đêm khuya, tiếng nói từ những bậc đức hạnh và ngay cả tiếng vỗ một bàn tay của người chứng ngộ. Như vậy, sự có mặt của hai lỗ tai trong đời sống của em là những điều kiện thuận lợi để giúp em có hạnh phúc, vậy tại sao em lại sầu muộn và khổ đau!

Cũng như vậy, em cứ suy nghĩ đi, có phải mũi và miệng là những điều kiện giúp em có hạnh phúc không? Mũi đã giúp em thở, nếu em không thở làm sao em có thể sống, mũi giúp em thưởng thức được các hương thơm, nếu em không có mũi, làm sao em có thể ngửi được hương thơm của muôn vạn loài hoa và dược thảo, hương thơm của hương và trầm và nhất là hương thơm trong đời sống của những người đức hạnh! Miệng lưỡi đã giúp em nói, để tạo ra được những cảm thông giữa mình và người, giúp em hát và ca, giúp em biểu lộ được tiếng gọi quý báu và thân thương nhất là cha ơi, mẹ ơi, anh chị ơi, em ơi, thầy ơi, và ngay cả tiếng gọi cao quý nhất là Phật ơi nữa; Miệng lưỡi giúp em ăn, uống và nếm các mùi vị mỗi ngày, và như vậy, miệng lưỡi cũng như lỗ tai đã giúp em nhiều lắm, em có biết không?

Lại nữa, tôi muốn nói với em rằng, thân thể của em từ đầu mình cho đến tay chân, từ mái tóc cho đến làn da, từ não trạng cho đến các bộ phận trong cơ thể, từ những hạt mồ hôi cho đến những tế bào nhỏ nhặt, không có cái gì là không giúp cho em sống có hạnh phúc, và ngay cả những cái đi, đứng, nằm, ngồi, co, duỗi đều là những động tác giúp em có hạnh phúc cả. Nên, em đi được, em đứng vững được, em ngồi vững chãi được, em nằm thảnh thơi được, em co và duỗi được, em thở được, em uống nước và ăn cơm được, em nói, cười và khóc được, cho đến em đi tiểu được, đi đại được, tất cả những cái được ấy, đều là những cái được của hạnh phúc đó em ạ! Những cái được ấy, hiện tại em đang được và được quá nhiều như vậy, nhưng tại sao em lại sống không có hạnh phúc?

Và em ơi, quan trọng hơn nữa, là trong thân thể của em lại có tâm hồn, nếu trong thân thể của em, mà không có tâm hồn, thì em trở thành gỗ đá và mọi sự có mặt của mắt tai mũi lưỡi và thân thể đều trở thành vô nghĩa, vì nó chẳng giúp được gì cho em bao nhiêu, đối với sự cảm nhận cuộc sống.

Nhưng em ơi, tâm hồn của em càng sâu lắng, thì hạnh phúc của em càng cao; tâm hồn của em càng rộng, thì hạnh phúc của em càng lớn; tâm hồn của em càng trong sáng, thì hạnh phúc của em càng xuyên suốt, tâm hồn của em càng bất động, thì hạnh phúc của em càng vững chãi, tâm hồn của em càng đơn giản, thì đời sống của em càng thảnh thơi và không hệ luỵ, và tâm hồn của em càng đi tới với sự toàn giác, thì hạnh phúc của em càng linh hoạt và sống động. Em hãy sử dụng sáu quan năng nhận thức của em với tâm hồn có những trạng thái như thế, và lẽ đương nhiên khi ấy, sáu quan năng nhận thức của em đều là những điều kiện của phép lạ, có khả năng biểu hiện để tạo ra và tiếp nhận muôn ngàn hạnh phúc cho em.

Như vậy, sống không phải như những gì em vừa trình bày và lên án, mà em hãy trở về lại với chính em đi, để em có thể cảm nhận được những gì mà tôi vừa nói với em, để em có thể tiếp nhận được gia tài quý báu của em vốn đã có từ nhiều đời, và từ những thiện căn phước đức nhân duyên, mà cha mẹ, cũng như dòng họ tổ tiên nội ngoại của em, cùng với đất trời đã chung nhau, làm nên hình hài, để hiến tặng cho em và đã cùng em hiện hữu!

Và hôm nay, em đang hiện hữu trong sự sống chết giữa cõi người ta, nên đứng trước sự sống và chết ấy, em

không thể không khắc khoải và suy tư, vì sao? Vì đó là bi kịch, mà con người hết sức sợ hãi.

Nhưng em ơi, em có biết không? Đỉnh cao của sự sống là sự chết và tột cùng của sự chết là sự sống, sống và chết là hai mặt của một sự hiện hữu, chúng chưa bao giờ biệt ly nhau, dù chỉ là một khoảnh khắc em ạ!

Sống là thở, nếu không thở làm sao có sự sống; sống là cười, nếu không có cười, thì làm sao sự sống có thể đâm chồi, nẩy lộc và nở hoa; sống là bước đi, là hành động, là liên tục chuyển dịch, nếu không có bước đi, không có hành động và không có sự chuyển dịch, thì không có sự sống, và sống là thỉnh thoảng em phải ngồi yên lặng, với sự có mặt của ý thức trong sáng, để thở chậm và sâu, nhằm theo dõi các cảm giác, các tri giác, các ấn tượng và tưởng tượng, đang vận hành trong tâm thức, nhằm thanh lọc thân tâm và nhìn rõ lại chính mình em ạ!

Nhưng em ơi! Con người chuyển dịch liên hệ đến vô minh, thì họ sẽ sống trong vô minh. Sống trong vô minh là sống trong sự lo lắng, hận thù, đấu tranh và giành giựt nhau; sống trong vô minh là sống trong sự lập phe, lập nhóm để tranh giành đặc quyền, đặc lợi của nhau, những ai sống như vậy là họ đã sống trong sự lo lắng, khổ đau và chết ở trong sự bất mãn và sầu muộn.

Và nếu sự chuyển dịch của con người liên hệ đến Minh, thì con người sẽ đi và sống trong ánh sáng. Sống trong ánh sáng, thì con người không còn có sự lo lắng và nghi ngờ, con người không còn có sự giành giựt nhau, mà con người biết tìm cách bảo vệ hạnh phúc cho nhau và đưa nhau đi lên đời sống cao thượng, nên con người sống trong sự thảnh thơi và chết ở trong sự an toàn.

Em ơi, phép toán đầu tiên em học để tính, đó là phép toán cộng trừ, nhân chia em ạ! Em có biết không, không có cái cộng nào mà không đi theo với cái trừ và không có cái nhân nào mà không đi theo với cái chia, nghĩa là cộng bao nhiêu thì phải trừ bấy nhiêu, nhân bao nhiêu thì phải chia bấy nhiêu và lại nữa, trong bài toán trừ, nếu mượn mà không trả, đó là bài toán sai hỡi em!

Em hãy nhìn sâu vào bốn phép toán cộng trừ, nhân chia ấy, bằng đôi mắt thiền quán, em sẽ khám phá ra chân nghĩa của sự sống và em sẽ biết ý nghĩa đích thực của sự sống là gì. Em ơi, sống là cộng và trừ, là nhân và chia đó em! Nghĩa là ta cộng bao nhiêu là ta phải trừ bấy nhiêu; ta nhân bao nhiêu là ta phải chia bấy nhiêu. Ta cộng thêm một ngày của sự sống, thì ta cũng trừ bớt đi một ngày của sự sống; ta nhân thêm bao nhiêu ngày của sự sống, thì ta cũng phải chia lại cho bấy nhiêu ngày của sự sống em ạ!

Em ơi, trong lứa tuổi của em, có khi nào em ngồi yên lặng để ngắm trăng chưa, nếu có, thì em đã thấy gì từ mặt trăng và em đã nghe mặt trăng nói gì với em trong mỗi đêm không? Nếu em không nghe, thì ta thay thế mặt trăng để nói cho em nghe nhé!

Trăng mỗi nửa tháng đầu, đều làm theo phép toán cộng, nghĩa là giữa không gian vô cùng, từ mồng một, trăng xuất hiện mơ hồ mà mắt thường ít ai thấy được, rồi mỗi ngày đi qua, đêm về trăng càng lúc, càng hiện rõ, nghĩa là mỗi ngày đêm đi qua là mỗi ngày, mỗi đêm cộng vào đời sống của trăng, khiến trăng càng lúc càng sáng, cái tròn sáng của trăng một cách trọn vẹn xuất hiện giữa đêm rằm, và qua đêm mười sáu, bài toán cộng tròn và sáng của trăng đã tự chuyển đổi thành bài toán trừ, và mỗi ngày đêm đi qua, cái tròn và sáng của trăng tự giảm trừ dần, cho đến đêm ba mươi là dấu hiệu cũng như ánh sáng của trăng hoàn toàn tự triệt tiêu, và giữa không gian vô cùng của đêm ấy, ta chẳng tìm đâu ra dấu tích của trăng.

Như vậy, trăng đã cộng bao nhiêu ngày đêm để soi sáng cho đời, thì trăng cũng phải trừ bấy nhiêu ngày đêm, để trở về với nguyên thể của nó! Và em ơi, nếu trăng chỉ đi theo phép cộng mà không có phép trừ hay không trừ đúng với những gì chúng đã cộng, nghĩa là trăng mọc mà không lặn, trăng tròn mà không khuyết, thì mặt trăng đó là mặt trăng vẽ trên giấy hay đó là một mặt trăng bệnh hoạn giữa không gian và nó chẳng có tác dụng gì trong cuộc sống, hoặc nếu nó có tác dụng, thì nó sẽ gây ra tai họa cho trần gian em ạ!

Và tôi muốn nói tiếp với em rằng, trong đời sống hằng ngày, em thở vào là cộng, em thở ra là trừ. Bài toán cộng, trừ này chỉ đưa tới hạnh phúc và an lạc cho em, khi em biết thở vào bao nhiêu là em phải biết thở ra bấy nhiêu. Em biết không, khi em thiền tập, em thở vào dài là em biết em thở vào dài, khi em thở ra dài là em biết em thở ra dài; khi em thở vào ngắn là em biết em thở vào ngắn, khi thở ra ngắn là em biết em thở ra ngắn; như vậy khi em thở vào dài, thì em phải thở ra dài, khi em thở vào ngắn, thì em phải thở ra ngắn, nếu em thở vào dài, mà em thở ra ngắn, thì em sẽ bị ứ hơi, và khi em thở vào ngắn mà thở ra dài, thì em sẽ bị hụt hơi. Mỗi khi em thở bị hụt hơi hay bị ứ hơi, đều dẫn em đến tình trạng khổ thọ và em sẽ không bao giờ có cảm giác hạnh phúc trong khi em thở. Em chỉ có cảm giác dễ chịu và hạnh phúc, khi nào em biết, em thở vào bao nhiêu, là em phải biết thở ra bấy nhiêu. Nếu em thở vào dài và thở ra dài; thở vào ngắn và thở ra ngắn là khiến cho hơi thở của em không bị ứ hay không bị hụt, bấy giờ em có sự hòa điệu giữa thân thể và hơi thở, cũng như sự hòa điệu giữa thân thể với tâm hồn, chính sự hòa điệu ấy, chúng tạo nên những cảm giác dễ chịu và hạnh phúc trong đời sống của em. Nếu em nắm vững được quy luật này, nghĩa là em nắm vững quy luật cộng và trừ, thì khi em đạt được bất cứ một cái gì trong cuộc sống, em sẽ không bị đánh mất bởi cái đạt được ấy; và khi em bị mất bởi bất cứ một cái gì trong cuộc sống, thì em sẽ không bị cái mất ấy, làm cho em bị khuynh đảo, thất vọng và khổ đau.

Bởi vậy, nếu em chỉ nắm vững nguyên tắc của một bài toán cộng trừ, thì em có thể giải mã được nhiều bài toán bí ẩn khác của cuộc sống!

Em biết không, khi em sinh ra, em không nắm bất cứ một cái gì trong tay em để đến, và khi kết thúc cuộc sống, em cũng chẳng nắm được bất cứ cái gì nơi tay em để đi!

Như vậy, ở trong cuộc sống con người, em không những chỉ biết xây dựng đời sống của em bằng bài toán cộng, mà em còn phải biết xây dựng cho đời sống của em bằng bài toán trừ nữa chứ; em không những chỉ biết xây dựng cho đời sống của em bằng bài toán nhân, mà em còn phải biết xây dựng cho đời sống của em bằng bài toán chia nữa chứ!

Em biết không, Ngày xưa ở Ấn Độ có một trường phái triết học tên là Samkhyasastra (Số Luận), trường phái này họ nhận thức và đo lường thực tại bằng những con số, và qua những con số mà họ khám phá thực tại, thì nay em cũng vậy, em có thể sử dụng bốn phép toán học cộng trừ, nhân chia, để em khám phá đâu là chân nghĩa của sự sống, nhằm em có thể sử dụng sự sống mà không bị rơi vào bất cứ một sự sai lầm nào cả!

Và tôi muốn nói tiếp với em rằng, cuộc sống của em không phải chỉ có mặt bắt đầu từ khi cha mẹ của em sinh ra và không phải là kết thúc khi em buông bỏ hình hài này, mà cuộc sống của em là một dòng chảy tâm linh liên tục từ vô thỉ đến vô chung, nên không có cuộc sống nào gọi là cuộc sống bế tắc cả em ạ!

Em biết không, cha mẹ của em chỉ là những điều kiện giúp em biểu hiện sự sống mà không thể thay em để sống, sự sống phải chính là em. Và mỗi khi em hết những điều kiện để biểu hiện sự sống, cũng không có nghĩa là bế tắc và cũng không có nghĩa là em đã chết. Tôi muốn nói với em là em không bao giờ chết, vì không bao giờ có cái gọi là chết thiệt. Chết là em tiếp tục sống và tiếp tục biểu hiện trong dòng chảy liên tục của nhân duyên nội hàm, dưới hình thức này hoặc dưới hình thức khác, hoặc ở trong một không gian này hay ở trong một gian khác, mà mắt em quá phàm tục, trí em quá phàm trần, nên em không thấy và không biết đó thôi!

Cũng vậy, này em ơi, mặt trăng đang ẩn khuất ở bắc bán cầu, thì nó đang tỏa sáng ở nam bán cầu, chứ mặt trăng đâu có thực sự là lặn hay chết! Và mặt trời cũng vậy, mặt trời chưa bao giờ bế tắc, mặt trời ẩn khuất ở phương đông thì lại tiếp tục biểu hiện ở phương tây em ạ!

Như vậy, mặt trăng và mặt trời không bao giờ bế tắc, có nghĩa là chúng không bao giờ chết, thì tại sao em lại có chuyện bế tắc và có chuyện chết? Tôi muốn nói với em rằng, em không bao giờ bị bế tắc và em không bao giờ bị chết thiệt, vì em là một phần thân thể của mặt trăng và mặt trời, mà mặt trăng, mặt trời không bao giờ chết, thì cái chết chẳng bao giờ có thực với em. Sự sống và chết của em cũng giống như sự biểu hiện và ẩn tàng của mặt trăng và mặt trời giữa không gian vô cùng, điều đó em có nhận ra, để em vui cười với sự sống và sự chết của chính em trong từng khoảnh khắc không?

Ở đây, tôi cũng muốn nói thêm với em rằng, thân thể của em chỉ là những sự biểu hiện từ nơi dòng tâm thức vô tận của em; thân thể của em hết điều kiện biểu hiện, thì chúng lại ẩn tàng, nghĩa là chúng trở về lại với dòng tâm thức của em, và khi có điều kiện, thì chúng lại tiếp tục biểu hiện, khi hết điều kiện để biểu hiện, thì nó lại ẩn tàng, cứ như vậy, mà thân thể em hết biểu hiện lại ẩn tàng và hết ẩn tàng lại biểu hiện. Thân thể của em ẩn tàng là ẩn tàng trong tâm thức, và biểu hiện là biểu hiện từ tâm thức, nhưng em ơi, tâm thức là không bao giờ chết, nó là một dòng chảy tương tác liên tục bởi những nhân duyên của chính nó.

Bởi vậy, em hãy nhìn lại tâm em, để em có thể thấy rõ thân thể của em từng giây phút trong hiện tại là gì, và em cũng có thể thấy được thân thể của em trong tương lai là gì. Và em hãy nhìn lại tâm em, để em có thể trả lời được những câu hỏi, tại sao em lại thương người này, mà em lại không thương người kia; tại sao đối với người này thì em lại hành sử như thế này, mà đối với kia thì em lại hành sử như thế kia; tại sao em lại có mặt trong gia đình này, mà không có mặt trong gia đình kia; và tại sao em lại sinh ra trong thế giới này, mà em lại không sinh ra ở thế giới kia... tất cả những câu hỏi ấy, em có thể trả lời một cách minh bạch cho chính em, khi em biết nhìn lại tâm em trong sự yên lặng.

Em hãy trở về nhìn sâu vào tâm em bằng đôi mắt thiền quán, với ý chí quyết liệt, với hướng đi cao khiết, với tấm lòng thanh bạch và mở rộng, thì chẳng có khó khăn nào cản được bước chân em, bấy giờ em không còn hờn ai và trách ai, mà tất cả đều giúp em vui sống và thành đạt.

Và lời sau cùng, tôi muốn nói với em rằng, không có ai thương yêu và tạo nên hạnh phúc cho em, bằng chính tâm hồn an lạc của em, mà cũng không có ai ghét em và tạo ra khổ đau cho em bằng chính tâm tư sầu muộn của em. Nên, tôi mong em hãy quay về tìm lại hạnh phúc ở nơi chính tâm hồn của em, mà đừng bao giờ tìm kiếm hạnh phúc ở nơi bất cứ cái gì khác. Và em hãy nên nhớ rằng, không có sự hạnh phúc và an toàn nào được bảo chứng ở nơi chiếc thảm gấm, do người khác đem đến và trải đường cho em đi, và nếu em muốn đi trên chiếc thảm gấm, thì chính em phải tự dệt và tự chọn lấy con đường để trãi!

Vậy, hiện tại và tương lai của em là gì, em hãy nhìn sâu vào tâm tư của chính em để tự biết và tự chứng nghiệm lấy, đó là những gì mà tôi muốn tâm sự và chia sẻ với em hôm nay!.

                                                                                                                                                          Thái Hòa

NÓI VỚI EM.

lòng dũng cảm

Cuộc sống vốn có nhiều khó khăn thử thách và cả thất vọng, nỗi buồn. Dũng cảm vượt qua để luôn là chính mình và đừng để điều gì có thể che khuất ước mơ, niềm tin và hoài bão”. Đó chính là ý tưởng chính của hai tập sách Hạt giống tâm hồn: Cho Lòng Dũng Cảm và Tình Yêu Cuộc Sống do First News (NXB TP.HCM) phát hành.
 
Tập sách gồm 100 bài viết, truyện ngắn hay, có ý nghĩa sâu sắc (mỗi tập 50 truyện), gần gũi với cuộc sống, mang tính tự nhận thức và giáo dục cao.
 
Trong cuộc sống chúng ta ai cũng có một ước mơ cho một ngày mai thật đẹp, dù bình dị hay phi thường. Đó có thể là ước mơ của một cậu bé mồ côi mong có ngày được chăm sóc trong vòng tay người mẹ; ước mơ của một chú bé tật nguyền được bước đi bình thường như bao người khác; ước mơ nhìn thấy ánh sáng của một người mù; ước mơ tìm được việc làm của một chàng trai thất nghiệp…; hoặc có thể là những ước mơ chinh phục, vượt qua thử thách, vươn lên khẳng định mình và trở thành những gì mà mình từng ao ước…
 
Nhưng cuộc sống luôn tiềm ẩn những trở ngại, khó khăn và thử thách bất ngờ - con đường đi đến những ước mơ ấy không hề bằng phẳng. Bao khó khăn, trở ngại và cả bất hạnh có thể xảy ra vào những lúc không mong chờ nhất như để thử thách lòng dũng cảm của con người.
 
Trước những khó khăn thử thách ấy, mỗi người sẽ tự chọn cho mình cách đón nhận, đối đầu để có một hướng đi riêng. Có người phó thác cho số phận, có người trốn chạy đi tìm nơi trú ẩn, có người tự thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới, cũng có người chìm vào biển tự than thân, trách phận để rồi ngã gục trong cơn dông tố cuộc đời...
 
Thế nhưng, bất kể là ai, tự đáy lòng của mỗi con người đều tồn tại một khát vọng mãnh liệt - đó là khát vọng sống và được luôn là chính mình. Chính khát vọng ấy đã khiến bao trái tim trăn trở, thao thức tìm cho mình một cách nghĩ, một sức mạnh tinh thần, một hướng đi để theo đuổi những hoài bão, ước mơ của mình.
 
Cho Lòng Dũng Cảm Và Tình Yêu Cuộc Sống trong bộ sách Hạt giống Tâm hồn này sẽ là người bạn đồng hành cùng người đọc vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống thường ngày như nỗi mất mát, nỗi đau tổn thương tinh thần, bệnh tật, những thăng trầm trên bước đường theo đuổi ước mơ của cuộc đời.
 
Sách gồm hai tập, giá 19.000 đồng/tập, phát hành tại Nhà sách Trí Việt (11H Nguyễn Thị Minh Khai, ĐT: 8227979 - 8227980) và các nhà sách trên toàn quốc. 

THIỀN SƯ NHẤT HẠNH ĐƯỢC TẠC TƯỢNG VINH DANHThiền sư được tạc tượng vì những cống hiến trong nỗ lực xây dựng nền hòa bình thế giới và dựng lại nền đạo đức cho mọi người ở khắp nơi trên thế giới. Theo thông tin đăng tải trên trang web Remember Them, trang web của một tổ chức phi lợi nhuận có tên là Oakland Metropolitan Chamber of Commerce Foundation (Quỹ từ thiện thương mại của ngân khố thủ phủ Oakland), Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã được tổ chức này tạc tượng vinh danh. Thiền sư được tạc tượng vì những cống hiến trong nỗ lực xây dựng nền hòa bình thế giới và dựng lại nền đạo đức cho mọi người ở khắp nơi trên thế giới. Chân dung của thiền sư đã được họ tạc với phong cách rất độc đáo. Remember Them (Tưởng nhớ họ) là một trong số những chương trình hoạt động của tổ chức này. Remember Them tạc tượng những nhân vật được xem là "Champions For Humanity" (những người hùng đã cống hiến cho nhân loại), những người được cộng đồng thế giới ngưỡng mộ. Họ là những vị nhà đạo lãnh đạo tôn giáo, chính trị gia, tổng thống của một quốc gia, nhà giáo dục, nhà văn, nhà báo hay những nhà hoạt động từ thiện, nhân quyền tự do…

23/06/2011 ThienNhien.Net – Dưới đây là hình ảnh cột khói bụi khổng lồ bốc lên từ ngọn núi lửa Puyehue (Chile) sau “cơn thức tỉnh” đầu tiên của “hung thần” dãy Andes trong vòng hơn nửa thế kỷ nay. Trận phun trào diễn ra hôm 04/6 này đã khiến 3.500 người dân cư trú tại 22 cộng đồng vùng nông thôn Chile phải sơ tán, thậm chí còn khiến thị trấn nghỉ mát Patagonian thuộc thành phố Bariloche (Argentina) phải tuyên bố báo động khẩn cấp và đóng cửa sân bay. Vẫn chưa dừng lại, tro bụi núi lửa tiếp tục theo gió hướng thẳng đến New Zealand, gây ảnh hưởng trên diện rộng ở Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Nam Mỹ. Để đảm bảo an toàn tối đa, các hãng hàng không lớn ở Nam Mỹ, châu Á và hai nước châu Đại Dương bị ảnh hưởng (New Zealand, Australia) đã tiến hành hủy bỏ hầu hết mọi chuyến bay. Sở Thăm dò Địa chất Quốc gia Chile cho biết khả năng thời gian tới sẽ còn nhiều vụ phun trào nữa từ núi lửa Puyehue với cường độ mạnh hơn.23/06/2011 ThienNhien.Net – Dưới đây là hình ảnh cột khói bụi khổng lồ bốc lên từ ngọn núi lửa Puyehue (Chile) sau “cơn thức tỉnh” đầu tiên của “hung thần” dãy Andes trong vòng hơn nửa thế kỷ nay. Trận phun trào diễn ra hôm 04/6 này đã khiến 3.500 người dân cư trú tại 22 cộng đồng vùng nông thôn Chile phải sơ tán, thậm chí còn khiến thị trấn nghỉ mát Patagonian thuộc thành phố Bariloche (Argentina) phải tuyên bố báo động khẩn cấp và đóng cửa sân bay. Vẫn chưa dừng lại, tro bụi núi lửa tiếp tục theo gió hướng thẳng đến New Zealand, gây ảnh hưởng trên diện rộng ở Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Nam Mỹ. Để đảm bảo an toàn tối đa, các hãng hàng không lớn ở Nam Mỹ, châu Á và hai nước châu Đại Dương bị ảnh hưởng (New Zealand, Australia) đã tiến hành hủy bỏ hầu hết mọi chuyến bay. Sở Thăm dò Địa chất Quốc gia Chile cho biết khả năng thời gian tới sẽ còn nhiều vụ phun trào nữa từ núi lửa Puyehue với cường độ mạnh hơn.

Thế nào là Phật giáo?



Thích Nhuận Châu dịch



Vấn đề này sẽ đáp ứng cho những ai muốn có nhận thức sâu hơn về Phật pháp. Phật pháp là nền giáo dục chí thiện, viên mãn nhất mà Đức Phật muốn chỉ dạy trực tiếp cho mọi chúng sinh trong pháp giới này. Nền giáo dục này bao hàm vô lượng vô biên nguyên lý và hiện tượng trong vũ trụ, hơn cả những gì được giảng dạy trong giáo trình của các trường đại học hiện thời. Trên phương diện thời gian, nó bao hàm cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Trên phương diện không gian, nó bao hàm cả những chi tiết nhỏ nhất trong sinh hoạt hằng ngày của chúng ta cho đến các hiện tượng vô cùng vô tận trong vũ trụ. Nên Phật giáo không phải là tôn giáo, mà là nền giáo dục trí huệ để nhận biết rõ toàn triệt nhân sinh và vũ trụ. Học thuyết của Khổng Tử chỉ đề cập đến một đời người, từ khi sinh ra cho đến khi chết. Còn Phật pháp là nền giáo dục thông cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai.



Tại sao nói rằng Phật pháp là nền giáo dục? Thời nay, chữ ‘Thầy’ và ‘trò’ chỉ được dùng trong nhà trường. Tuy nhiên, không những chúng ta gọi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là Bổn sư, và tự xưng mình là đệ tử, mà còn xưng ngài là Đấng cha lành. Điều này không như trong những tôn giáo mà giáo chủ và môn đệ không có mối quan hệ thầy-trò mà chỉ có mối quan hệ cha-con. Đạo Phật xác định rõ Đức Phật là Thầy và chúng ta là những học trò. Các vị Bồ-tát là bạn cùng học đạo chung với chúng ta; các ngài đã từng học với Đức Phật lâu rồi, còn chúng ta là những người mới học.

Lại nữa, Đại đức Tăng hay Ni được gọi là Hòa thượng,[1]đó là tiếng phiên âm từ chữ Sanskrit, có nghĩa là vị Thầy gần gũi và trực tiếp dạy đạo riêng cho chúng ta. Chúng ta được hưởng mối quan hệ thầy-trò từ vị Hòa thượng này. Mỗi ngôi chùa hoặc đạo tràng chỉ có một vị Hòa thượng. Người thay mặt Hòa thượng giảng dạy kinh luận cho chúng ta được gọi là A-xà-lê[2]. Là vị thầy làm mô phạm cho chúng ta noi theo, từ lời nói cho đến công hạnh. Còn những vị không trực tiếp thân cận dạy dỗ, mà chỉ giảng dạy kinh luận cho chúng ta thì được gọi là Pháp sư. Những thuật ngữ này mang đặc điểm của nền giáo dục Phật pháp chứ không có trong tôn giáo.

Một ví dụ khác nữa, chúng ta hãy xem xét một cơ cấu tổ chức đạo tràng Phật giáo (Tự viện Phật giáo Trung quốc). Tự viện là một cơ cấu kết hợp cả hai hệ thống giáo dục Phật pháp và nghệ thuật Phật giáo, tương tự như sự kết hợp của nhà trường và viện bảo tàng hiện nay. Đó là hình thức giảng dạy nghệ thuật trong nhà trường. Vậy mà Phật giáo cách đây hơn 3000 năm đã thực sự áp dụng lối giáo dục kết hợp với nghệ thuật ấy rồi.

Cách sắp xếp nhân sự trong các tự viện Phật giáo lại càng giống với các nhà trường hiện nay. Hiệu trưởng cũng giống như Hòa thượng, quyết định mọi nguyên tắc đào tạo, sắp xếp giáo trình và giáo thọ giảng dạy. Giúp việc cho Hòa thượng là ba vị: Thủ tọa, coi sóc về giáo vụ; Duy-na[3], coi sóc về huấn đạo; Giám viện, chịu trách nhiệm tổng quát. Mới biết tổ chức cơ cấu tự viện thực sự là một nhà trường hoàn chỉnh. Thuở xưa, tự viện ở Trung Hoa được gọi là Tùng lâm. Tùng lâm đích thực là một trường Đại học Phật giáo. Từ cơ cấu tổ chức này, chúng ta được biết rõ hơn Phật pháp đích thực là một nền giáo dục.

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

ĐẶC SẢN MỚI CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG NƯỚC. CHÙM BÁT


Bạn đã từng đến nam bộ thưởng thức nhiều món trái cây nam bộ.Nào là chôm chôm,sầu riêng,xoài,măng cụt mãng cầu vân vân và vân vân. Nhưng còn một loại trái cây nữa mà thưa bạn chỉ có ở vùng sông nước nan bộ mới có,loại trái cây này vô cùng bình dân,vô cùng bí mật,vô cùng hấp dẫn cực kỳ kiêu sa mà rất dể tìm.Bạn ơi đó là trái Chùm Bát,loại cây này thường mọc ở vùng đầm lầy dọc bờ sông cạnh ao hồ.Thân cây và trái gần như trái mãng cầu có nơi người ta gọi là mãng cầu nước.Từ khi ra hoa đến khi hái trái ăn được khoảng hai tháng.trái sống thì màu  lúc chín thì chuyển sang ửng vàng và chỉ ửng vàng trong vài giờ nếu không hái kịp thì rụng xuống ao mất và khi rụng xuống ao thì không ăn được.
khi ăn bóc sạch vỏ đánh chung với đường hoặc sữa phải làm bằng tay để nguyên hạt chứ không dùng bằng máy xay sinh tố,đập đá nhỏ bỏ vào...ôi tuyệt tuyệt mùi chua nhẹ cộng hương thơm của Chùm Bát mà các loại trái cây trên trần gian này không nơi nào sánh kịp. Nếu ngọc hoàng thượng đế đi vi hành ở trần gian này tôi nghĩ ngài sẽ chọn chụn chùm bát làm tráng miệng sau bửa ăn đó các bạn à. Xin nói thêm loại chùm bát ở Long Phước quận 9 tp hcm là loại ngon nhất mà tôi từng biết nếu bạn ghé qua Long Phước thì đừng quên món này bạn nhé.
   sông trăng 22/6/2011