Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

QUAN NIỆM CỦA ALBERT EINSTEIN VỀ CON NGƯỜI.

Quan niệm của Albert Einstein về con người,
về động cơ, mục đích  và ý nghĩa của cuộc sống
                                                         PGS, TS. Nguyễn Tấn Hùng 
Albert Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 trong một gia đình trung lưu gốc Do Thái ở thành phố Ulm, bang Baden-Wỹrttemberg. Tuy nhiên, gia đình ông chủ yếu sống ở Munich (nay là thủ phủ bang Bavaria, Đức)
     Lúc nhỏ, cậu bé Einstein vốn là người trầm tĩnh, lên 3 tuổi mới biết nói.
    Năm ông 15 tuổi, gia đình ông rời Munich đến sinh sống tại Milan, Italia.

ALBERT EINSTEIN VÀ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA


Nguyên tác Anh ngữ: Rasoul Sorkhabi
                        
Năm 2005 đánh dấu kỷ niệm năm sinh nhật lần thứ 70 của đức Đạt Lai Lạt Ma. Liên Hiệp Quốc cũng tuyên bố năm 2005 là năm Vật Lý của thế giới và người đã được vinh danh là ông Albert Einstein, nhà đại khoa học phát minh ra Thuyết Tương Đối năm 1905 (cách nay 100 năm) đã từ trần năm 1955 (đúng 50 năm trước). Đây là cơ duyên thuận lợi để chúng ta tìm hiểu tại sao có sự trùng hợp, gặp gỡ giữa hai nhân vật lịch sử vĩ đại này trong thời đại của chúng ta hôm nay, một nhân vật là khoa học gia Tây Phương nổi tiếng và người kia là vị lãnh đạo Phật Giáo mà khắp thế giới đều tôn kính, đã nêu lên một hình ảnh ý nghĩa về sự hợp nhất giữa khoa học và tôn giáo.
 

Ghi chú của dịch giả: Rasoul Sorkhabi là giáo sư tại Học Viện Nghiên Cứu Năng Lượng và Khoa Địa Chất thuộc Đại Học Utah (Salt Lake City), nơi ông đang sống với người vợ Nhật và cô con gái.

THẦY NHƯ MỘT ÁNG MÂY BAY.

Thương một áng mây bay thì không thể lấy dây mà buộc ràng áng mây lại. Không được thong dong trên bầu trời cao vợi, đám mây sẽ không còn là đám mây mà chỉ còn là một đám khói mờ nhạt và chóng tan biến.
  1. Áng mây và bầu trời xanh thẳm
Những ngày ấu thơ, ta nằm dài trên những ngọn đồi đầy hoa cỏ, ngước mắt nhìn lên bầu trời xanh thẳm nơi có những áng mây đầy màu sắc, hình dáng bay lửng lơ thong dong. Ta thích ngắm những đám mây! Đám mây sao mà đẹp đến thế! Những đám mây trắng tinh nhưng những bông tuyết lấp lánh, đám mây vàng cuộn tròn như lá chín mùa thu, đám mây tía là đà như khói lam chiều tỏa ra từ gian bếp nhà tranh của mẹ.

MẮT THƯƠNG

Hiểu biết là con mắt thì chính xác hơn hết các biểu tượng khác. Em có thể gọi là ‘trí nhãn’ nghĩa là mắt hiểu. Hiểu biết không phải là mớ kiến thức, dù đó là kiến thức về giáo lý của Phật, mà là một loại ánh sáng từ kinh nghiệm sống dù đời sống có lắm đau thương. Hiểu biết là biết giữ gìn, bảo hộ, gọi giới luật, và khả năng tập trung tâm ý gọi là thiền định.
Em thân mến!
Đố em, trong cơ thể chúng mình, trái tim có mặt để làm gì?

TÌNH THƯƠNG KHÔNG BIÊN GIỚI

Tình thương chân thật trong đạo Bụt gọi là tứ vô lượng tâm. Vô lượng có nghĩa là không thể đo lường, không có biên giới. Ta có thể dịch tứ vô lượng tâm là bốn tâm không biên giới. Bốn tâm ấy là tâm từ, tâm bi, tâm hỷ và tâm xả. Bốn tâm không biên giới này là tình thương chân thật, là bản tính chân thật của chúng ta.

Thiên Đường trong mắt em.


   
Người ta thường ca ngợi vẽ đẹp của Thiên Đường, hay của Tịnh Độ. Nhưng, Thiên Đường ở đâu? Tịnh Độ ở đâu? Có người bảo: “Tịnh Độ ở Phương Tây cách đây mười vạn ức cõi Phật.” Có người lại bảo: “Thiên Đường là nơi Chúa Trời ngự trị. Nơi nào có Chúa Giê Su ngự, thì nơi ấy có Thiên Đường…” Theo tôi, nơi nào có sự sống nơi ấy có Thiên Đường. Nơi nào mà em có thể thưởng thức được hoa hồng thì nơi ấy có Thiên Đường. Nơi nào mà tâm em bình lặng thì nơi ấy là Tịnh Độ.

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, một trong những tu sĩ nổi tiếng nhất thế giới, tác giả bài thơ ‘Bông hồng cài áo’, nằm trong số 25 vị Quán quân về Nhân bản được thành phố Oakland ở miền Bắc bang California tạc tượng. Thiền Sư Thích Nhất Hạnh Hình: ASSOCIATED PRESS Thiền Sư Thích Nhất Hạnh Công trình điêu khắc vinh danh các nhân vật hy sinh vì nhân loại, dấn thân tranh đấu cho nhân quyền trên thế giới, vừa được khánh thành đầu tháng này, tại phía Tây Khu tưởng niệm Henry J. Kaiser, ngay trung tâm thành phố Oakland. Cùng với tượng Thiền sư Thích Nhất Hạnh là tượng của các nhân vật nổi tiếng, trong đó có cố Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln, người mở đường chấm dứt chế độ nô lệ; nhà tiên phong tranh đấu cho dân quyền tại Mỹ, Martin Luther King Jr; Thánh Gandhi, nhà tranh đấu nổi tiếng của Ấn Độ; Mẹ Teresa, một nữ tu Thiên Chúa Giáo La Mã đã cống hiến cả cuộc đời vì người nghèo; và Tổng thống Nelson Mandela, một nhà hoạt động ở Châu Phi chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Trước khi Hoa Kỳ bắt đầu cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq, HT đã kêu gọi Quốc hội Mỹ sử dụng đường lối đối thoại thay cho võ khí. HT là tác giả của hàng trăm đầu sách. Qua các tác phẩm và những bài thuyết giảng của mình, HT cổ võ thay đổi xã hội bằng đường hướng bất bạo động, hòa bình, và hòa giải. Tượng đài, với tổng chi phí hơn $8 triệu US, được dựng phía Tây của Henry J. Kaiser Memorial Park, ngay trung tâm thành phố Oakland. Ba trong số bốn khu vực tượng đài rộng 1,000 square feet được đặt tên “Remember Them: Champions for Humanity,” có tượng của 25 nhân vật nổi tiếng đấu tranh cho nhân quyền trên thế giới, từ Martin Luther King, Jr. tới Franklin Delano Roosevelt tới Maya Angelou, Cesar Chavez và Mahatma Gandhi. Người Việt Nam duy nhất có tượng trong tượng đài này là Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. 136849-DP-TuongDai-400.jpg Tượng Ðài Nhân Ðạo vừa được khánh thành tại Oakland. (Hình: oaklandnorth.net) Ngoài ra, có sáu nhà hoạt động địa phương cũng được tạc tượng phía sau tượng đài, trong đó có ông Henry J. Kaiser, cư dân Oakland, sáng lập viên công ty bảo hiểm Kaiser Permanente. Chi phí hoàn thành bức tượng này có được qua sự đóng góp của Phòng Thương Mại Oakland cùng với các công ty Kaiser Permanente, AT&T và Clorox, và một số cá nhân địa phương. Thành phố Oakland cũng đóng góp vào tượng đài $100,000, theo ông John Ellis, phát ngôn viên thành phố. Tượng đài cao 21 feet, rộng 52 feet, nặng 50,000 pound này do nghệ sĩ Mario Chiodo thực hiện. Nguồn: Remember-them.org, Oaklandchamber.com, VOV, Hophap Tượng đài Remember Them: Champions for Humanity có Thiền sư Nhất Hạnh Tượng đài “Remember Them: Champions for Humanity” vinh danh những người tranh đấu cho dân quyền và nhân bản trên thế giới đã được khánh thành tại Fox Square Park ở thành phố Oakland, California Lễ khánh thành đã diễn ra vào trưa ngày thứ Ba 6/9/2011 với sự tham dự của đại diện chính quyền liên bang, thành phố và các tổ chức bảo trợ. Bà dân biểu liên bang Barbara Lee đang giới thiệu điêu khắc gia Mario Chiodo sau khi tượng đài được mở ra Trên tượng đài là 25 nhân vật, còn sống và đã qua đời, đã tranh đấu cho những lý tưởng nhân bản trong đó có Mục sư Martin Luther King Jr. (thứ hai từ bên phải) và phu nhân là bà Coretta Scott King luôn ở bên cùng nhiều người khác như Frederick Douglass, Cesar Chavez, Maya Angelou, Rosa Park, Elie Wiesel, Oskar Schindler… Thánh Gandhi là một nhà tranh đấu trong tinh thần hoà bình được tạc tượng Tổng thống Franklin Deleno Roosevelt (bên trái), Mẹ Teresa, Thiền sư Nhất Hạnh và Tộc trưởng da đỏ Joseph Thiền sư Nhất Hạnh được vinh danh là người vận động cho những giải pháp hoà bình trong chiến tranh Việt Nam và sau biến cố 11/9/2001 đã thỉnh cầu Hoa Kỳ dùng ngoại giao thay vũ khí ở Afghanistan và Iraq. Trên 500 quan khách và cư dân thuộc đủ mọi sắc dân đã đến dự lễ khánh thành có trình tấu của giàn nhạc giao hưởng Oakland Symphony, ban hợp ca học sinh và phần đọc thơ của các thi sĩ. Điêu khắc gia Chiodo có ý tưởng thực hiện tượng đài sau khi chứng kiến biến cố 11/9.

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

TÌNH YÊU CÓ LÀM EM HẠNH PHÚC KHÔNG.

Gửi người bạn trẻ;                       ( thầy Trung Thuận ở thiền thất sông trăng)
Em viết: “Hạnh phúc chỉ có thật khi có tình yêu đích thật. Nhưng, có tình yêu đích thực hay không? Ba mẹ em đã sống với nhau 30 năm, thế mà vẫn chia tay. Mỗi người đi một ngã. Em đã hai lần thất bại trong tình yêu cho nên em luôn buồn. Em muốn có người bạn để tâm sự.”

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

cảm hứng từ cao nguyên

                                      Đừng thổi nữa gió ơi ta lạnh lắm
                                      Nhà của không khách sương tự ra vào
                                      Nhớ quay quắt miền xuôi Triều Âm Cốc
                                      Đêm thu tàng tình tự với trăng trong.

                                      Mẹ yêu hỡi! dấu chân con viễn xứ
                                      Mẹ là trăng sáng mãi tự thuở nào
                                      Nơi đất khách cỏ hoa làm bạn lữ
                                      Cởi mây ngàn tâm sự với hư không.

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

GIÁO DỤC VÀ NHỮNG VÔ LÝ TRONG XÃ HỘI.

Lâu nay, những ai quan tâm đến cải cách giáo dục, đều thấy rõ tầm quan trọng của việc xác định “Triết lý Giáo dục". Có lẽ cũng không thừa, nếu nói một chút về khái niệm Triết lý nói chung.

Theo sách vở, thì trước đây hơn 3000 năm, các triết gia cổ điển, như Platon, Aristote, Kant và Hêgel đã bàn luận nhiều về khái niệm Triết lý, mà tiếng Hy Lạp cổ gọi là Philosophia. Theo người Hy Lạp, Philosophia có 2 nghĩa: một là Đường hướng; hai là Một con đường mà chúng ta đang đi trên đó.

Trong phạm vi bài viết này Triết lý được hiệu là một lý luận mang tính triết học, được diễn tả một cách cô đọng, nhưng có tính khái quát cao, để nói lên tư duy về quan điểm, chủ trương đường lối hay phương châm hành động nhằm đạt được một mục tiêu nào đó. Ví dụ: "Khôn sống, mống chết", "Hãy tiến gần đến cửa nhà tù, song đừng để sa vào đó” đó là những triết lý về sự khôn - dại của người đời.

Ngày nay, sự tiến hoá của loài người đã làm nẩy sinh những triết lý mới về cuộc sống. Ví dụ: "Người tìm kiếm lợi ích cá nhân thông minh, trí tuệ nhất, an toàn, hiệu quả nhất thời nay, ở thế kỷ 21 này, chính là người biết hết lòng hùn hạp trí - lực của mình cho lợi ích tập thể, cho lợi ích xã hội và lợi ích của cả Đất nước". Triết lý không hoàn toàn là mục tiêu. Nó mang nhiều ý nghĩa một cách nhìn, một chính sách, một biện pháp hay phương châm hành động dẫn đến mục tiêu. Triết lý về bản chất là kết quả của một quá trình suy tư, nghiền ngẫm, tư duy ở tầm cao nhất, khái quát nhất về cái có lý và cái phi lý, về các quan điểm, những tư tưởng mang tính quy luật, phản ảnh kết quả của quá trình vận động và đổi mới trong tư duy của con người. Nói cách khác Triết lý là những tư tưởng thực sự có vai trò định hướng cho mọi hoạt động mang tính hệ thống để thực hiện một mục tiêu nhất định. Vì vậy không phải ngẫu nhiên, nhiều chuyên gia khi bàn về Cải cách GD, luôn yêu cầu: trước khi bàn vào chi tiết, kỹ thuật cụ thể, hãy làm rõ cái "Triết lý" mà anh muốn
theo".

Một đặc điểm nữa của triết lý là, do tính suy lý thường khá sâu sắc và khái quát cao, triết lý thường cần có sự bình giải thêm, đặc biệt là để trợ giúp cho việc tìm hiểu vận dụng của quảng đại quần chúng.

Trong lĩnh vực Giáo dục, ta có thể bắt gặp rất nhiều Triết lý cổ điển và hiện đại. Ví dụ: "Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy"; "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư “. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia"; “Vì lợi ích mười năm - trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người"; Đã có một số phương châm GD, khẩu hiệu hành động ngắn gọn mang tính triết lý rõ rệt, như: "Giáo dục phải kết hợp được tính Dân tộc, khoa học, đại chúng"; học đi đôi với hành; Nhà trường gắn với xã hội"; "GD phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn; phải tôn trọng hành động theo quy luật khách quan; phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại". Gần đây, rất nhiều triết lý GD mang tính đổi mới, đột phá, như "Học liên tục, học suốt đời", "Giáo dục cho mọi người, mọi người cho giáo dục"; xã hội học tập, nhà trường tư duy"; những tư duy cụ thể mang tính triết lý, đại loại như " Cần coi trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức cơ bản của con người hiện đại có cá tính nhưng bao dung, biết giao tiếp và hợp tác, biết làm việc có hiệu quả, có tư duy cởi mở với cái mới, thích dấn thân, không ngại đương đầu với thách thức, khó khăn, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm vì mục đích lớn, trung thực và có đầu óc sáng tạo"; "Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người"... được nhắc tới rất nhiều.

Vừa qua, một học giả có tiếng của Pháp còn "suy tư", triết lý" sâu thêm bước nữa: "Học để học là một chuyện. Học để làm là một chuyện khác. Học để quán triệt các kết quả và mục đích của việc làm lại là một chuyện khác nữa"v.v...

Quan sát lại toàn bộ các vấn đề về tư duy và triết lý trong thực tiễn nền Giáo dục nước ta, có thể có 2 kết luận:

1/ Tất cả những chủ trương, đường lối, chính sách, phương châm tổng quát nhất của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực Giáo dục thực chất đó là một hệ thống những triết lý chỉ đạo làm giáo dục của Đảng và Nhà nước, có mục đích hướng mọi người dân hành động có kết quả để thực hiện mục tiêu giáo dục đã được ghi trong Hiến pháp.

2/ Hệ thống các Triết lý tổng quát về GD của Đảng và Nhà nước ta về cơ bản là đúng đắn, đã và đang được bổ sung, hoàn thiện và đổi mới. Vì triết lý thường được diễn tả một cách cô đọng, ngắn gọn, súc tích, gần như những khẩu hiệu, những câu cách ngôn, và do đó, chúng thường chỉ nói lên từng mặt riêng biệt của cả vấn đề lớn.

Trong khi đó, để xây dựng một nền GD hoàn chỉnh, hiện đại, cần có một hệ thống triết lý đẩy đủ, toàn diện. Bởi lẽ cuộc sống đòi hỏi triết lý đáp ứng cả hai yêu cầu trái ngược nhau đó (súc tích, cần và đủ) nên dường như không ít người vẫn đi tìm "Triết lý GD", chính là họ đi tìm cách thức diễn đạt đầy đủ những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hơn nữa còn có thể cập nhật những yêu cầu hiện đại, cấp tiến, đón trước...mà những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đề ra trước đây chưa bao hàm hết.

Hoà vào sự tìm tòi chung đó, sau nhiều ngày nghiền ngẫm, suy tư, trăn trở về " đường hướng", hay về một con đường mà chúng ta đang đi" của nền Giáo dục nước ta, đổi mới cách nhìn, nâng tầm quan sát và dự báo thời thế, tổng hợp toàn bộ những vấn đề của một nền Giáo dục cần sớm được hiện đại hoá, của một xã hội đang hiện đại hoá, hướng tới nền kinh tế tri thức, trong điều kiện mở cửa hội nhập tham gia cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, trong môi trường sống,xã hội và tự nhiên, ngày càng khắc nghiệt mà nhân loại đang đối mặt, với lòng mong mỏi chung sống hoà bình, nhân đạo, phát triển bền vững, chúng tôi thấy nên có một Triết lý Giáo dục mới, ngắn gọn, nhưng lại bao quát được nhiều hơn những định hướng lớn, những nguyên tắc tổng quát, những nguyện vọng cụ thể của mỗi con người bình thường, cũng như nguyện vọng cao cả của cả loài người tiến bộ... và kết quả đã dẫn chúng tôi tới việc phát triển một triết lý giáo dục mới, hy vọng đạt được phần nào những yêu cầu như vậy:

"Giáo dục thế kỷ 21 có trọng trách rèn dậy cho mọi người cách thức để cùng chiến thắng trong cuộc sống hiện đại". Cái mới chính là ở chỗ: Nó nói rõ mục đích của GD là Dậy (và học) để ai cũng thành đạt, để không có ai bị thất bại trong cuộc sống, đó là cái vế nhân văn nhân đạo cần đạt được của mọi nền Giáo dục chân chính. Mọi người cần được trải qua một quá trình giáo dục, rèn luyện không ngừng, đầy đủ cả đức dục lẫn trí dục đúng với nghĩa rộng, phức hợp và hiện đại của những từ này, để họ có được nhiều khả năng tránh bị thất bại, hơn nữa còn hy vọng thành đạt trong cuộc sống. Kết quả của kém giáo dục là sự thất bại. Cái bí thua (người và quốc gia) chỉ là "Cái vô lí"- thiếu đức dục, hoặc "Cái thiếu hiểu biết” - thiếu trí dục, thua nặng hơn cả là khi người ta hành động vừa vô lý, lại vừa dốt nát?

Ngày nay, hàng ngày vẫn diễn ra quanh ta vô vàn nhưng điều dốt nát, hoặc những cái vô lý, cố ý hoặc vô tình đem lại cho con người và xã hội biết bao những tổn thất và tai hoạ, hoặc chí ít cũng làm kém hạnh phúc Gia đình, làm giảm tốc độ phát triển của Đất nước, làm chậm sự tiến hoá của Nhân loại. Trừ thiên tai, còn mọi thứ thua cuộc khác đều là do cái vô lý hoặc cái dốt nát gây ra.

Triết lý trái đất nhỏ hẹp, Của trời có hạn, Người này thắng, ắt Kẻ khác phải thua" là một triết lý sẽ trở nên cũ kỹ, vô lý, không còn phù hợp với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, và những khả năng vô tận của con người đang được khơi dậy. Vì vậy, Giáo dục ngày nay phải có nghĩa vụ và khả năng biết rèn, dậy, giúp đỡ mọi người những cái gì họ cần để có cuộc sống an toàn và thành đạt, góp phần làm cho quốc gia an ninh và phát triển, mà không nhất thiết phải làm cho kẻ khác thất bại.

Nhà trường, một mặt cần dậy những tri thức, kỹ năng rất đa dạng, cơ bản và thiết thực, cùng với khả năng tự tìm kiếm, liên kết phát triển, vận dụng chúng, mặt khác cần rèn dậy lý tưởng sống cao đẹp, những nhân cách, những bản lĩnh và nghị lực...cần thiết để người học biết cách:

- Hợp tác cùng chiến thắng trong cạnh tranh toàn cầu mọi mặt ngày càng gay gắt;
- Hợp tác để cùng chiến thắng thiên tai, dịch bệnh diễn biến khôn lường;
- Hợp tác để cùng tận hưởng được hạnh phúc trong cuộc sống gia đình ngày càng phức tạp;
- Hợp tác để cùng chiến thắng những thói hư tật xấu đang rình rập hàng ngày;
- Hợp tác để cùng thành đạt trong việc chinh phục những chân trời mới..v.v và v.v...

Để thực hiện được "Thiên chức " dậy mọi người tuỳ từng lứa tuổi những cái gì họ cần trong thời đại mới không thiếu, nhưng cũng không thừa, đương nhiên các thày cô giáo, các chuyên gia GD-ĐT, những nhà lãnh đạo, quản lý tài năng của chúng ta chắc chắn sẽ phải dầy công nghiên cứu để hiểu được cần phải đổi mới cả hệ thống tư duy cũ như thế nào, cần hiệu chỉnh đường lối, chính sách, luật pháp, chiến lược phát triển và những điều cụ thể hơn, như tổ chức, quản lý, Chương trình Sách Giáo khoa, dậy thêm - học thêm, phân luồng, phân tầng, đào tạo nhân tài, vận dụng cơ chế thị trường v.v... như thế nào.

Trong công cuộc cải cách GD đầy trọng trách và khó khăn này, chắc chắn giới trí thức sẽ được huy động để cùng góp sức hỗ trợ Bộ quản lý ngành, các thầy cô giáo thể nghiệm về thực chất triết lý mới đó, để họ có thể chiến thắng trước hết ngay trong cái xã hội nhỏ là nhà trường của chính mình?
                                                                                                                               TRÍ QUANG.